BS. TRẦN CÔNG DUY
Bộ môn Nội Tổng Quát
Đại học Y Dược TP. Hồ
Chí Minh
1. ĐẠI CƯƠNG
Một trong những thời điểm quan trọng nhất
trong lịch sử tiến hóa của loài người là sự thích nghi với tư thế đứng thẳng.
Trong khi tăng cường tính di động, tư thế đứng thẳng đã tạo ra gánh nặng đối
với hệ thống kiểm soát huyết áp để đáp ứng các nhu cầu của cơ thể, làm cho con
người thích nghi với các ảnh hưởng của trọng lực đối với tuần hoàn. Hệ thần
kinh tự chủ, các yếu tố nội tiết như hệ renin-angiotensin-aldosterone, tình
trạng co bóp cơ tim, đáp ứng mạch máu và thể tích tuần hoàn tham gia điều
chỉnh các phản ứng đối với sự thay đổi tư thế. Khi các cơ chế cân bằng nội môi
này bị phá vỡ thì tình trạng hạ huyết áp tư thế (HHATT) xảy ra.
Hạ huyết áp tư thế là một rối loạn phổ biến
nhưng thường bỏ sót chẩn đoán. Đây là nguyên nhân thường gặp của ngất và có thể
góp phần gây ra bệnh tật, tàn tật và thậm chí tử vong vì các nguy cơ tiềm tàng
của tổn thương đáng kể. Nó có thể là dấu hiệu khởi đầu của rối loạn thần kinh
tự chủ (RLTKTC) và gây ra nhiều triệu chứng chính trong các bệnh nguyên phát và
thứ phát của hệ thần kinh tự chủ. Để chẩn đoán HHATT, việc hỏi bệnh sử có trình
tự và đo huyết áp và nhịp tim ở tư thế nằm và đứng là cần thiết. Nghiệm pháp
bàn nghiêng được khuyến cáo nếu nghiệm pháp đứng thẳng chủ động âm tính, đặc
biệt là bệnh sử gợi ý HHATT, hoặc ở những bệnh nhân giảm vận động. Nguyên nhân
của HHATT bao gồm nguyên nhân tim mạch, thuốc và thần kinh. Điều trị bao gồm
các giáo dục bệnh nhân, các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc.
2. ĐỊNH NGHĨA
Theo Hiệp Hội Thần Kinh Tự Chủ Hoa Kỳ
(American Autonomic Society) và Viện Thần Kinh Hoa Kỳ (American Academy of
Neurology)[3], hạ huyết áp tư thế là tình trạng lâm sàng với huyết áp tâm thu
giảm ít nhất 20 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương giảm ít nhất 10 mmHg khi đứng
trong vòng 3 phút.
Tình trạng này có thể có hoặc không có triệu chứng đi kèm. Các
triệu chứng như hoa mắt, nhìn mờ, chóng mặt, lú lẫn… xảy ra vài giây đến vài
phút khi đứng và biến mất khi nằm. Một số bệnh nhân có thể té ngã, ngất hoặc
động kinh toàn thể.
3. DỊCH TỄ HỌC
Ở Hoa Kỳ, các hồ sơ bệnh án ghi nhận 0,4% các
trường hợp nhập viện có bao gồm HHATT trong chẩn đoán, và trong số này, khoảng
17% có HHATT là chẩn đoán ban đầu. HHATT làm tăng tỉ lệ tử vong ở những người
trung niên và xảy ra phổ biến ở người lớn tuổi với tỉ lệ 12%. HHATT hiện diện ở
20% bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi. Trong một nghiên cứu, tỉ lệ HHATT là 18% ở những
bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi, nhưng chỉ 2% các bệnh nhân này có triệu chứng. Tỉ lệ
nhập viện vì HHATT không cấp tính gia tăng tỉ lệ thuận với tuổi. Vì thế, khi
dân số lão hóa, tần suất HHATT và tỉ lệ bệnh suất liên quan HHATT có thể gia
tăng. Bệnh thường xảy ra ở người già bởi vì điều trị (thuốc dãn mạch, thuốc
chống trầm cảm…), giảm lượng dịch nhập và suy giảm chức năng hệ thần kinh tự
chủ.
HHATT phổ biến ở người lớn tuổi ở các cơ sở y
tế (54 đến 68%) hơn so với cộng đồng (6%), một nghiên cứu quan sát được giải
thích bởi tỉ lệ hiện mắc cao hơn của các rối loạn thần kinh nguyên nhân, suy
yếu sinh lý, và sử dụng thuốc ở những người tại các cơ sở y tế.
4. CƠ CHẾ BỆNH SINH
Nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”: khi một
người ở tư thế đứng, do ảnh hưởng của trọng lực, máu sẽ bị giữ ở các tĩnh mạch
lớn ở phần thấp của cơ thể (500-1000 ml). Sự giảm hồi lưu tĩnh mạch gây ra giảm
cung lượng tim, do đó làm giảm huyết áp (HA). Ở người bình thường, các áp thụ
quan ở quai động mạch chủ và thể cảnh ghi nhận sự thay đổi về HA, hoạt hóa các
phản xạ thần kinh tự chủ (Hình 1). Hệ giao cảm tăng nhịp tim, co bóp cơ tim, và
tăng trương lực co thắt tĩnh mạch. Hệ phó giao cảm bị ức chế cũng làm tăng nhịp
tim. Khi đứng lâu, sự hoạt hóa hệ renin-angiotensin-aldosterone và bài tiết ADH
giữ muối, nước làm tăng thể tích tuần hoàn. HHATT xảy ra khi các cơ chế cân
bằng nội môi bị phá vỡ:
v Rối loạn các bộ phận hướng tâm, trung ương, ly tâm của
cung phản xạ thần kinh tự chủ.
v Giảm co bóp cơ tim và đáp ứng mạch máu
v Giảm thể tích tuần hoàn
v Rối loạn đáp ứng hormon
Hình 1. Phản xạ áp lực
[3]
5. NGUYÊN NHÂN
Nhiều nguyên nhân của
HHATT đã được xác định. Bảng 1 liệt kê các nguyên nhân tim mạch, thuốc và thần
kinh. Nguyên nhân khác nhau phụ thuộc vào triệu chứng cấp hay mạn. Các nguyên
nhân thường gặp nhất của HHATT cấp tính bao gồm:giảm thể tích tuần hoàn, thuốc,
nằm lâu, suy thượng thận.Các nguyên nhân thường gặp nhất của HHATT mạn tính bao
gồm:sự thay đổi điều hòa huyết áp liên quan tuổi, thuốc, RLTKTC.
HHATT sau ăn cũng phổ
biến. Nó có thể gây ra bởi đáp ứng insulin đối với các bữa ăn giàu carbohydrate
và ứ máu ở đường tiêu hóa; tình trạng này nặng hơn bởi uống rượu.
Bảng 1. Nguyên nhân của
hạ huyết áp tư thế [10]
|
Tim mạch
|
|
|
Giảm thể tích tuần hoàn
|
Suy thượng thận, mất nước, xuất huyết
|
|
Giảm trương lực co thắt mạch máu
|
Nằm lâu , giảm Kali máu
|
|
Giảm cung lượng tim
|
Hẹp động mạch chủ, viêm màng ngoài tim co thắt, suy tim, nhồi
máu cơ tim, rối loạn nhịp nhanh hoặc rối loạn nhịp chậm
|
|
Khác
|
Cường aldosterone, suy tĩnh mạch ngoại biên, u tủy thượng thận
|
|
Thuốc
|
|
|
Thuốc dãn mạch
|
Ức chế Canxi, nitrate
|
|
Hoạt hóa thần kinh tự chủ
|
Ức chế alpha (prazosin, phenoxybenzamine), thuốc hạ áp
(clonidine, methyldopa, reserpine, ức chế beta), thuốc chống loạn thần
(phenothiazines), MAOIs, thuốc chống trầm cảm 3 vòng hoặc 4 vòng
|
|
Thần kinh
|
|
|
Trung ương
|
Teo đa hệ thống (hội chứng Shy-Drager), bệnh Parkinson, đột quỵ
|
|
Tủy sống
|
Tabes dorsalis, viêm tủy cắt ngang, khối u
|
|
Ngoại biên
|
Amyloidosis, bệnh thần kinh do đái tháo đường, rượu hoặc dinh
dưỡng RLTKTCcó tính gia đình (hội chứng Riley-Day), hội chứng
Guillain-Barré, hội chứng cận ung, RLTKTC nguyên phát (HHATT vô căn), phẫu
thuật cắt giao cảm
|
|
Khác
|
Rượu, barbiturate, levodopa (trong Parkinson), lợi tiểu quai
(furosemide), quinidine, vincristine (độc thần kinh)
|
6. LÂM SÀNG
HHATT được chẩn đoán khi sự giảm đáng kể HA và các triệu chứng
gợi ý hạ HA gây ra bởi tư thế đứng và giảm khi nằm.
Bệnh sử:
Bệnh sử của các bệnh hiện tại nên xác định
thời gian và mức độ của các triệu chứng (như có liên quan đế ngất hoặc té ngã).
Các bệnh nhân được hỏi về các yếu tố khởi phát (như thuốc, nằm lâu, mất dịch)
và mối quan hệ của các triệu chứng với bữa ăn. Cần tìm các triệu chứng của các
rối loạn nguyên nhân, nhất là các triệu chứng của suy giảm hệ thần kinh tự chủ
như giảm thị lực (do dãn đồng tử và mất điều tiết), bất lực hoặc bí tiểu, táo
bón, không dung nạp nhiệt độ (do rối loạn tiết mồ hôi), và rối loạn cương dương.
Các triệu chứng quan trọng khác bao gồm run, cứng đờ, và khó đi lại (bệnh
Parkinson, teo đa hệ thống); yếu và mệt (suy thượng thận, thiếu máu); và phân
đen như hắc ín (xuất huyết tiêu hóa). Các triệu chứng khác của rối loạn thần
kinh và tim mạch và ung thư cần được lưu ý.Một số bệnh nhân có thể không hiện
diện các đặc điểm bệnh sử kinh điển của HHATT. Ở các bệnh nhân lớn tuổi, báo
cáo triệu chứng hoa mắt khi đứng có thể không tương quan với việc phát hiện
HHATT. Một nghiên cứu tiến cứu ở phụ nữ lớn tuổi cho thấy sự sử dụng thuốc
chống lo âu hoặc hỗ trợ ngủ một lần mỗi tuần và hút thuốc lá có mối liên quan
chặt chẽ hơn với triệu chứng hoa mắt tư thế mà không HHATT so với phát hiện
HHATT trong NPBN. Ở các bệnh nhân Parkinson, các triệu chứng kinh điển của
HHATT không hiện diện đáng tin cậy ở các bệnh nhân rối loạn chức năng thần kinh
tự chủ. Một nghiên cứu 50 bệnh nhân hội chứng Parkinson cho thấy chỉ hơn một
nửa bệnh nhân HHATT trong NPBN có triệu chứng.
Tiền sử: nên xác định các
nguyên nhân tiềm năng đã biết, bao gồm bệnh lý tim mạch, đái tháo đường, bệnh
Parkinson, và ung thư (hội chứng cận ung). Thuốc nên được đánh giá về tác dụng
gây ra HHATT (xem bảng 1), đặc biệt là thuốc hạ áp và nitrate. Tiền sử gia đình
của HHATT gợi ý RLTKTC có tính gia đình.
Khám thực thể:
Đo huyết áp:
v Đo HA ở tư thế nằm và đứng. Nếu bệnh
nhân không thể đứng, có thể đánh giá với tư thế ngồi thẳng.
v Giải thích cho bệnh nhân hiểu cách làm
và yêu cầu bệnh nhân báo các triệu chứng khó chịu trong quá trình làm nghiệm
pháp.
v Đo HA cùng 1 cánh tay với 1 máy đo HA
và bắt mạch cùng 1 vị trí.
v Đo HA sau khi BN nằm đầu ngang 5 phút;
đứng 1 phút và 3 phút.
ð Xác định hạ HA tư thế: HATT giảm ≥ 20
mmHg và/hoặc HATTr giảm ≥ 10 mmHg.
Hạ huyết áp mà không có sự gia tăng bù trừ
nhịp tim (< 10 lần/phút) gợi ý rối loạn thần kinh tự chủ; tăng nhịp tim đáng
kể (> 100 lần/phút hoặc tăng > 30 lần/phút) gợi ý giảm thể tích tuần
hoàn. Khoảng 2/3 bệnh nhân HHATT có thể không được phát hiện nếu không được đo
HA khi đứng. Tuy nhiên, một nghiên cứu tiến cứu 730 bệnh nhân cho thấy sinh
hiệu tư thế có giá trị tiên đoán kém (giá trị tiên đoán dương = 61,7%; giá trị
tiên đoán âm = 50,2%) khi được so sánh với NPBN trong chẩn đoán HHATT.
Khám da niêm tìm các dấu hiệu mất nước và sự thay đổi sắc tố da gợi ý bệnh Addison (như tăng sắc tố da, bạch biến). Khám trực tràng để phát hiện xuất huyết tiêu hóa.
Trong khám thần kinh, tiếp cận chi tiết hệ thần kinh vận động nên được thực hiện để đánh giá các dấu hiệu của bệnh Parkinson, cũng như thất điều tiểu não. Phản xạ trực tràng và niệu dục được kiểm tra để đánh giá chức năng thần kinh tự chủ; các đánh giá bao gồm phản xạ da bìu, phản xạ thắt hậu môn và phản xạ hành hang. Các dấu hiệu của bệnh thần kinh ngoại biên (như bất thường sức cơ, cảm giác, và phản xạ gân sâu) cũng được đánh gía.
Khám da niêm tìm các dấu hiệu mất nước và sự thay đổi sắc tố da gợi ý bệnh Addison (như tăng sắc tố da, bạch biến). Khám trực tràng để phát hiện xuất huyết tiêu hóa.
Trong khám thần kinh, tiếp cận chi tiết hệ thần kinh vận động nên được thực hiện để đánh giá các dấu hiệu của bệnh Parkinson, cũng như thất điều tiểu não. Phản xạ trực tràng và niệu dục được kiểm tra để đánh giá chức năng thần kinh tự chủ; các đánh giá bao gồm phản xạ da bìu, phản xạ thắt hậu môn và phản xạ hành hang. Các dấu hiệu của bệnh thần kinh ngoại biên (như bất thường sức cơ, cảm giác, và phản xạ gân sâu) cũng được đánh gía.
Bảng 2 . Chi tiết lâm
sàng gợi ý nguyên nhân không do thần kinh của HHATT [8]
|
Bệnh sử và khám thực thể
|
Nguyên nhân có thể
|
|
Đau ngực, hồi hộp, khó thở, ran, phù, rối loạn nhịp tim, âm
thổi
|
Suy tim sung huyết, nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, viêm
màng ngoài tim hoặc viêm cơ tim
|
|
Phù chi
|
Suy tim sung huyết, tắc tĩnh mạch, nằm hoặc đứng lâu (gây ra ứ
máu tĩnh mạch)
|
|
Các triệu chứng khi thức giấc hoặc sau một bữa ăn
|
Ứ máu tĩnh mạch hoặc hạ HA sau ăn
|
|
Nôn, tiêu chảy, xuất huyết, bỏng, sử dụng lợi tiểu, dấu hiệu
lâm sàng của mất nước
|
Giảm thể tích nội mạch
|
|
Các triệu chứng khác nhau của các bệnh nội tiết
|
Suy thượng thận, đái tháo nhạt
|
|
Sốt
|
Nhiễm trùng huyết hoặc các quá trình nhiễm trùng cấp tính khác
|
Bảng 3. Chi tiết lâm
sàng gợi ý nguyên nhân thần kinh của HHATT [8]
|
Bệnh sử và khám thực thể
|
Nguyên nhân có thể
|
|
RLTKTC không có các triệu chứng thần kinh khác
|
RLTKTC nguyên phát
|
|
Các đặc điểm Parkinson, tiểu không tự chủ hoặc bí tiểu, rối
loạn chức năng tiểu não, các triệu chứng thần kinh tự chủ
|
Teo đa hệ thống
|
|
RLTKTC khởi phát cấp hoặc xảy ra sau vài tuần (có thể
xảy ra tăng huyết áp (THA) khi nằm)
|
Hội chứng Guillain-Barre
|
|
Lạm dụng rượu mạn tính
|
Bệnh đa dây thần kinh do rượu
|
|
Nguy cơ bệnh lây truyền qua đường tình dục
|
AIDS, giang mai thần kinh (Tabes dorsalis)
|
|
Các triệu chứng cấp, bán cấp hoặc tái phát khác nhau
|
Xơ cứng rải rác
|
7. CẬN LÂM SÀNG
Các xét nghiệm chẩn đoán HHATT bao gồm các xét
nghiệm thường quy và các xét nghiệm chẩn đoán nguyên nhân dựa vào từng tình
huống lâm sàng với bệnh sử và khám thực thể khác nhau. Một số test chuyên biệt
được thực hiện để chẩn đoán RLTKTC. Bảng 4 liệt kê một số xét nghiệm đánh giá
HHATT.
Bảng 4. Xét nghiệm đánh
giá hạ huyết áp tư thế [7]
|
Xét nghiệm
|
Tình trạng nghi ngờ
|
|
Công thức máu
Tăng hoặc giảm bạch cầu
Hemoglobin/hematocrit thấp
Tiểu cầu thấp
|
Nhiễm trùng
Thiếu máu, mất máu
Nhiễm trùng huyết
|
|
BUN, Creatinine máu
|
Tăng tỉ số hoặc tăng Creatinin huyết thanh gợi ý giảm thể tích
nội mạch
|
|
Điện giải
|
Rối loạn điện giải do ói hoặc tiêu chảy, suy thượng thận (giảm
natri, tăng kali), có thể là nguyên nhân của rối loạn dẫn truyền tim
|
|
Glucose
|
Đái tháo đường
|
|
Cortisol buối sáng
|
Suy thượng thận
|
|
B12 huyết thanh
|
Bệnh thần kinh do thiếu B12
|
|
Điện tâm đồ
|
Rối loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim
|
|
Siêu âm tim
|
Suy tim sung huyết, bệnh tim cấu trúc
|
|
CT-scan hoặc MRI
|
Bệnh thoái hóa thần kinh, đột quỵ
|
Test chức năng thần kinh tự chủ
Test chức năng tiết mồ hôi
Chức năng này qua trung gian sợi hậu hạch,
giao cảm, cholinergic, không có bao myeline: test mồ hôi điều nhiệt
(Thermoregulatory sweat test), test dấu ấn mồ hôi (Sweat imprint test), test
phản xạ sợi trục tiết mồ hôi định tính (Quantitative sudomotor axon reflex
test-QSART), đáp ứng da giao cảm (Sympathetic skin response)
Test chức năng tim mạch
Nghiệm pháp thở sâuđánh giá chức năng phó
giao cảm tâm phế vị. Bệnh nhân hít vào và thở ra tối đa 6 lần mỗi phút và ghi
nhận sự biến đổi nhịp tim khi thở sâu. Với hệ thần kinh tự chủ nguyên vẹn, nhịp
tim tăng đáp ứng với hít vào. Nhịp tim được theo dõi khi bệnh nhân hít chậm và
sâu (khoảng 5 giây hít vào và 7 giây thở ra) trong 1 phút. Khoảng R-R dài nhất
lúc thở ra bình thường bằng ít nhất khoảng 1,15 lần khoảng R-R ngắn nhất lúc
hít vào; khoảng ngắn hơn gợi ý RLTKTC. Các bệnh nhân với khoảng R-R bất thường
hoặc các triệu chứng hoặc dấu hiệu thần kinh tự chủ cần đánh giá đái tháo
đường, bệnh Parkinson, teo đa hệ thống và RLTKTC nguyên phát.
Nghiệm pháp Valsavacũng đánh giá đánh giá
chức năng phó giao cảm tâm phế vị. Tỉ số Valsava được tính từ nhịp tim tối đa
chia cho nhịp tim tối thiểu và cũng ghi nhận sự thay đổi HA trong các giai đoạn
của nghiệm pháp này.
Nghiệm pháp bàn nghiêng (Head-up Tilt
table test - NBPN) đánh giá chức năng tim, mạch máu giao cảm và một phần chức năng
phó giao cảm. Nghiệm pháp bàn nghiêng có thể được thực hiện khi nghi ngờ cao
RLTKTC mặc dù các sinh hiệu tư thế bình thường và ở các bệnh nhân không thể
đứng để đo sinh hiệu tư thế; nghiệm pháp này cho các kết quả phù hợp hơn đo HA
ở tư thế nằm và đứng và loại trừ sự điều chỉnh của hồi lưu tĩnh mạch bằng co cơ
chân.
Hình 2. Bệnh nhân đang
được thực hiện nghiệm pháp bàn nghiêng [7]
·
Chỉ định NPBN[7]:
Ø Xác suất cao HHATT mặc dù đánh giá ban
đầu âm tính
Ø Bệnh nhân giảm vận động đáng kể cản
trở họ đứng để ghi nhận sinh hiệu tư thế
Ø Theo dõi diễn tiến RLTKTC và đáp ứng
với điều trị
·
Bốn kiểu đáp ứng bất thường có thể gặp trong NPBN (Bảng 5). Nghiệm pháp này có
thể hữu ích trong phân biệt HHATT với các rối loạn khác mà có thể hiện diện các
triệu chứng liên quan tư thế như ngất do thần kinh-tim. Độ nhạy của NPBN để
chẩn đoán ngất do thần kinh-tim là 65% và độ đặc hiệu là 100%.
·
Bảng 5. Các đáp ứng đối với nghiệm pháp
bàn nghiêng [7]
|
Tình trạng
|
Đáp ứng sinh lý
|
|
Bình thường
|
Nhịp tim tăng 10 đến 15 lần/phút
HA tâm trương tăng 10 mmHg hoặc hơn |
|
Rối loạn thần kinh tự chủ
|
Giảm HA tâm thu và tâm trương tức thì và tiếp diễn
Không tăng nhịp tim bù trừ |
|
Ngất do thần kinh-tim
|
Giảm HA đột ngột, có triệu chứng
Nhịp chậm đồng thời Xảy ra sau nghiệm pháp 10 phút hoặc hơn |
|
Hạ HA tư thế
|
HA tâm thu giảm 20 mmHg hoặc hơn
hoặc HA tâm trương giảm 10 mmHg hoặc hơn |
|
Hội chứng nhịp nhanh tư thế
|
Nhịp tim tăng ít nhất 30 lần/phút
hoặc Nhịp nhanh kéo dài hơn 120 lần/phút |
Đo norepinephrine hoặc ADH (vasopressin) huyết tương ở tư
thế nằm và đứng:có thể cần để chẩn đoán RLTKTC nguyên phát.
8. TIẾP CẬN CHẨN ĐOÁN
Như tất cả các rối loạn khác, bước đầu tiên và
quan trọng nhất để tiếp cận chẩn đoán HHATT là khai thác bệnh sử chi tiết và
khám thực thể toàn diện, đầy đủ. Sau đó, các xét nghiệm cận lâm sàng được chỉ
định dựa vào các phát hiện của bệnh sử và khám thực thể. Thông tin từ tất cả
các nguồn này được dùng để chẩn đoán xác định và phác thảo một kế hoạch điều
trị toàn diện và hợp lý. Hình 3 mô tả lưu đồ các bước tiếp cận chẩn đoán HHATT.
9. ĐIỀU TRỊ
Nhiều chọn lựa điều trị mới đối với HHATT đã
được nghiên cứu trong các thập niên qua. Các thử nghiệm có đối chứng đã được
thực hiện với điều trị thuốc và phương pháp vật lý. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu
này chỉ bao gồm một nhóm nhỏ các bệnh nhân với các rối loạn khác nhau gây ra
HHATT, và sử dụng các tiêu chuẩn chẩn đoán phân biệt khác nhau.
Mục tiêu điều trị HHATT
Ø Nâng HA khi đứng mà không làm tăng HA
khi nằm
Ø Giảm các triệu chứng khi đứng, tăng
thời gian bệnh nhân có thể đứng
Ø Cải thiện khả năng thực hiện các hoạt
động hàng ngày
Để đạt mục tiêu điều trị trên, bước đầu tiên
là chẩn đoán và điều trị nguyên nhân. Nếu nguyên nhân không có điều trị đặc
hiệu hoặc điều trị không khỏi hoàn toàn thì cần áp dụng các biện pháp không
dùng thuốc và xem xét dùng thuốc.
Điều trị không dùng
thuốc
Tránh các yếu tố có thể gây HHATT được khuyến
cáo hàng đầu, nhất là ở các dạng nhẹ. Giáo dục bệnh nhân và người chăm sóc về
mục tiêu và các biện pháp điều trị của HHATT. Bước tiếp theo bao gồm một loạt
các chiến lược điều trị không dùng thuốc (bảng 6).
Điều trị dùng thuốc
Fludrocortisone
Flurocortisone acetate là mineralocorticoid
tổng hợp với các tác dụng glucocorticoid tối thiểu. Nó làm tăng tái hấp thu
natri ở thận và tăng thể tích huyết tương. Kích thích thụ thể alpha-adrenegic
có thể điều chỉnh hoạt động của norepinephrine. Sau khi uống, fludrocortisone
được hấp thu và đạt nồng độ huyết tương đỉnh trong vòng 45 phút. Thời gian bán
hủy thải trừ khoảng 7 giờ. Phối hợp chế độ ăn nhiều muối, ngủ nâng đầu giường
20-30 cm và liều thấp fludrocortisone (0,1-0,2 mg) là biện pháp hiệu quả cải
thiện HHATT. Phù nhẹ có thể xảy ra và fludrocortisone nên được sử dụng thận
trọng ở bệnh nhân có albumin huyết tương thấp. Liều cao fludrocortiosone có thể
gây ra quá tải dịch và suy tim sung huyết, THA nặng khi nằm và giảm kali máu.
Để phòng ngừa giảm kali máu, tư vấn bệnh nhân ăn thực phẩm giàu kali như trái
cây, rau cải, gia cầm, cá và thịt. Nhức đầu có thể xảy ra, nhất là khi nằm.
Đồng vận thụ thể alpha
Có nhiều thuốc hướng giao cảm tác dụng thụ thể
alpha-adrenergic. Midodrine đã được nghiên cứu rộng rãi. Adrenaline
(epinephrine) và noradrenaline (norepinephrine) không có tác dụng khi uống, và
nhanh chóng bất hoạt trong cơ thể sau khi truyền. Các tác dụng phụ phổ biến của
thuốc hướng giao cảm với tác dụng trung ương, như ephedrine, là nhịp nhanh, lo
lắng, không nghỉ ngơi, mất ngủ và run. Khô miệng, giảm tuần hoàn đến các chi,
THA khi nằm, và rối loạn nhịp tim có thể xảy ra.
Midodrine
Midodrine là thuốc tiền chất với chất chuyển
hóa hoạt động, desglymidodrine, có tác dụng đồng vận thụ thể alpha-1-adrenegic
ngoại biên. Nó làm THA qua tác dụng co mạch. Midodrine không qua hàng rào máu
não sau khi uống và không tăng nhịp tim. Tính sinh khả dụng hoàn toàn là 93% và
thời gian thải trừ của desglymidodrine là 2-3 giờ. Thời gian tác dụng của
midodrine khoảng 4 giờ. Thuốc được bài tiết hoàn toàn qua nước tiểu. Midodrine
được khuyến cáo là đơn trị liệu hoặc điều trị phối hợp (như với
fludrocortisone). Liều khởi đầu là 2,5 mg uống 2 đến 3 lần mỗi ngày, tăng dần
dần đến 10 mg 3 lần/ngày.
THA khi nằm là một tác dụng phụ phổ biến (25%)
và có thể nặng. Liều cuối cùng nên được uống ít nhất 4 giờ trước khi ngủ và nên
theo dõi HA. Các tác dụng phụ là ngứa cẳng chân hoặc toàn thân (10 và 2%), dị
cảm cẳng chân hoặc toàn thân (9%), bí tiểu (6%) và ớn lạnh (5%).
Một số bệnh nhân nặng hơn khi sử dụng
midodrine có thể do làm mất nhạy cảm thụ thể adrenegic. Thuốc được sử dụng thận
trọng ở bệnh nhân rối loạn chức năng gan và chống chỉ định trong bệnh tim nặng,
suy thận cấp, bí tiểu, u tủy thượng thận và nhiễm độc giáp.
Dihydroxyphenylserine
Dihydroxyphenylserine (DOPS) là thuốc tiền
chất được biến đổi bởi dopadecarboxylase thành noradrenaline. Với liều 200 –
400 mg/ngày L-DOPS giảm HHATT. Đây là biện pháp điều trị hiệu quả duy nhất của
thiếu dopamine beta-hydroxylase. Trong tất cả nghiên cứu được đánh giá, không
có tác dụng phụ được báo cáo. Các nghiên cứu tương lai sẽ phải nghiên cứu nhóm
bệnh nhân nào có ích lợi nhất từ thuốc này.
Octreotide
Octreotide, đồng phân somatostatin, ức chế
phóng thích các peptide tiêu hóa, một số peptide đó có đặc tính dãn mạch. Liều
tiêm dưới da 25-50 ug nửa giờ trước bữa ăn có thể làm giảm HHATT sau ăn. Thuốc
không làm THA khi nằm. Buồn nôn và co thắt bụng có thể xảy ra.
Các chọn lựa điều trị
khác
Đối với các thuốc được liệt kê bên dưới, không
có bằng chứng rõ ràng trong HHATT. Nhiều thuốc cần thêm các nghiên cứu trong
tương lai.
Epherine, tác dụng thụ thể alpha và beta-adrenegic,
được khuyến cáo bởi các tác giả, làm giảm HHATT ở nhiều bệnh nhân, đặc biệt tổn
thương trung ương như teo đa hệ thống (15 mg 3 lần/ngày).
Yohimbine, đối vận thụ thể
alpha-2-adrenegic với tác dụng trung ương và ngoại biên, được sử dụng trong
HHATT kháng trị (6 mg mỗi ngày)
Dihydroergotamine, đồng vận thụ thể
alpha-adrenegic trực tiếp, kích thích co thắt các tĩnh mạch , cho thấy lợi ích
và có thể được sử dụng trong HHATT nặng (3-5 mg 3 lần/ngày uống)
Desmopressin, đồng phân
vasopressin, tác dụng lên thụ thể vasopressin-2 ở ống thận gần, giảm tiểu nhiều
về đêm, và có thể dùng ở dạng xịt mũi (10-40 ug) hoặc uống (100-400 ug) buổi
tối.
Erythropoietinđược khuyến cáo ở các bệnh
nhân thiếu máu.
Indomethacin, ức chế prostaglandin
synthetase, được sử dụng trong HHATT nặng (75-150 mg/ngày).
Bảng 6. Điều trị không
dùng thuốc [3]:
|
Biện pháp
|
Lời bàn
|
|
Thực hiện cử động thay đổi tư thế từ từ
|
Thời gian cho phép sự thích nghi thần kinh tự chủ
|
|
Tránh ho và các cử động làm tăng áp lực trong lồng ngực
|
Các cử động này giảm hồi lưu tĩnh mạch về tim
|
|
Tránh nằm lâu
|
Nằm lâu thúc đẩy HHATT
|
|
Tập vận động đẳng trương (isotonic exercise)
|
Sự căng cơ do vận động đẳng trường giảm hồi lưu tĩnh mạch về
tim
|
|
Thực hiện các động tác đối vận như chéo chân, khom lưng, ngồi
xổm, căng cơ
|
Các động này giảm ứ trệ tĩnh mạch ngoai biên và tăng hồi lưu
tĩnh mạch về tim
|
|
Nâng đầu giường 10-20 độ
|
Vị trí này làm giảm THA khi nằm và đi tiểu
|
|
Ngưng hoặc giảm liều các thuốc gây hạ HA
|
Có thể chấp nhận THA khi nằm để duy trì sự dung nạp khi đứng
|
|
Mang vớ và dụng cụ bó bụng (abdominal binder) đàn hồi
|
Mang các dụng cụ này giảm ứ trệ ngoại biên ở TM chi dưới và
tuần hoàn tạng.
|
|
Giảm HHATT sau ăn
|
Các bữa ăn nhỏ, ít carbohydrate, không uống rượu
|
|
Tăng lượng dịch nhập và muối
|
Chế độ ăn đến 10 g muối/ngày và dịch nhập 2-2,5 lít/ngày
|
|
Uống nước nhanh
|
Uống nhanh 0,5 lít nước tăng HA trong vòng 5-15 phút
|
Bảng 7 . Điều trị dùng
thuốc [3]:
|
Thuốc
|
Cơ chế tác dụng
|
Liều
|
Tác dụng phụ
|
Lời bàn
|
|
9-α-fluorohydrocortisone
|
Tăng hấp thu Natri ở ống thận xa, có thể tăng nhạy cảm của
mạch máu với catecholamine
|
0,05-0,3 mg/ngày
|
THA khi nằm, phù mắt cá, giảm Kali, nhức đầu, suy tim (hiếm)
|
Tác dụng kéo dài, có thể cần bổ sung Kali
|
|
Midodrine
|
Đồng vận α1-adrenoreceptor trực tiếp
|
2,5-10 mg 2-4 lần/ngày
|
Phản ứng nổi da gà, ngứa, THA khi nằm, nhịp tim chậm, rối loạn
tiêu hóa, bí tiểu
|
Thuốc duy nhất được FDA công nhận, không uống trong khoảng 4
giờ trước khi nằm
|
|
Pyridostigmine
|
Ức chế acetylcholinesterase, tăng dẫn truyền thần kinh ở hạch
giao cảm
|
30-60 mg/ngày
|
Tăng tiết nước bọt, tăng nhu động, buồn nôn, nôn và co thắt dạ
dày
|
Tác dụng tối đa ở tư thế đứng khi dẫn truyền thần kinh giao
cảm lớn nhất
|
|
Desmopressin acetate DDAVP
|
Đồng phân Vasopressin tác dụng thụ thể V2 ở ống góp, tăng thể
tích tuần hoàn và giảm tiểu đêm
|
Xịt mũi 5-40 ug/ngày, uống 100-800 ug/ngày
|
Ngộ độc nước và hạ Natri máu
|
Theo dõi cẩn thận tình trạng dịch và điện giải
|
|
Erythropoietin
|
Thuốc tạo máu điều chỉnh thiếu máu đẳng sắc đẳng bào, tăng
khối lượng hồng cầu và thể tích máu trung tâm, có thể tác dụng trực tiếp hoặc
gián tiếp lên thành mạch
|
25-75 U/kg TDD 3 lần/tuần đến khi Hct bình thường, có thể giảm
liều duy trì sau đó
|
THA khi nằm, đa hồng cầu, chưa rõ các nguy cơ dài hạn (bao gồm
nguy cơ tim mạch)
|
Thường cần bổ sung sắt
|
|
A: Abdominal binder
|
Mang dụng cụ bó bụng khi ra khỏi giường, có thể kết hợp vớ đàn
hồi
|
|
B: Bolus of water
Bed up
|
Uống 2 ly nước lạnh (500ml) trước khi đứng lâu
Ngủ với nâng đầu giường lên 10-20 độ hoặc 10 cm
|
|
C: Countermaneuvers
|
Co cơ dưới vùng eo khoảng nửa phút để nâng HA khi đứng lâu
hoặc có triệu chứng
|
|
D: Drugs
|
Thuốc: midodrine, pyridostigmine, fludrocortisone sử dụng để
nâng HA.
Nhận ra các thuốc sử dụng gây ra hạ HHATT
|
|
E: Education
Exercise
|
Giáo dục BN nhận ra các triệu chứng HHATT, các tình trạng gây
ra hạ HA như bữa ăn nhiều, nhiệt độ, gắng sức..., biết những điều cần làm để
nâng HA.
Tránh không vận động và thực hiện chương trình thể dục nhẹ
nhàng.
|
|
F: Fluid and Salt
|
Cần nhiều muối và dịch
|
10. KẾT LUẬN
HHATT là tình trạng phổ biến nhưng còn bỏ sót
chẩn đoán nhiều. 2/3 bệnh nhân HHATT sẽ không được phát hiện nếu không đo HA ở
tư thế đứng. Tần suất HHATT gia theo tuổi. Đo huyết áp và nhịp tim ở tư
thế nằm và đứng là cần thiết để chẩn đoán xác định HHATT. Nghiệm pháp bàn
nghiêng được khuyến cáo nếu nghiệm pháp đứng thẳng chủ động âm tính, đặc biệt
là bệnh sử gợi ý HHATT, hoặc ở những bệnh nhân giảm vận động. Để chẩn đoán
nguyên nhân HHATT, cần hỏi bệnh sử chi tiết và khám thực thể toàn diện, đầy đủ
trong từng tình huống lâm sàng cụ thể. Nếu nguyên nhân vẫn chưa rõ ràng,
các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh có thể hữu ích. Nguyên nhân của HHATT bao
gồm nguyên nhân nguyên nhân tim mạch, thuốc và thần kinh. Điều trị bao gồm các
giáo dục, tư vấn bệnh nhân, các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc. Các
biện pháp vật lý bao gồm chéo chân, ngồi xổm, dụng cụ bó bụng và vớ đàn hồi, và
tập thể dục cẩn thận. Fludrocortisone là một thuốc khởi đầu có giá trị. Các
thuốc hàng thứ hai bao gồm thuốc hướng giao cảm, như midodrine, epherine, hoặc
dihydroxyphenylserine.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Blair P. Orthostatic
hypotension and autonomic failure: a concise guide to diagnosis and mangement.
Clinical Medicine: Cadrdiology 2008; 2: 279-291.
2. Consensus statement on the definition
of orthostatic hypotension, pure autonomic failure, and multiple system
atrophy. The Consensus Committee of the American Academy of Neurology.
Neurology 1996; 46: 1470.
3. David S. Neurogenic orthostatic
hypotension: a pathophysiologial. Circulation 2009; 199: 139-146.
4. Fauci AS, Kapler AL, et al. Chapter
37: Disorders of the autonomic nervous system. Harrison’s Principles of
Internal Medicine 2011, 18th edition.
5. H. Lahrmann, et al. EFNS guidelines on the
diagnosis and management of orthostatic hypotension. European Journal of
Neurology 2006, 13: 930-936.
6. Hugh Calkins,Douglas P. Zipes. Chapter 37: Hypotension and
syncope. Braunwald’s Heart Disease: A textbook of cardiovascular medicine 2007,
8th edition.7. Jeffrey B. Evaluation and management of orthostatic hypotension. Am Fam Physician 2011; 84 (5): 527-536.
8. John G. Orthostatic Hypotension. Am Fam Physician 2003; 68: 2393-2398.
9. Juan J., Jeffrey R., Phillip A. Preventing and treating orthostatic hypotension: As easy as A,B,C. Cleveland Clinic Journal of Medicine 2010; 77 (5): 298-306
10. Paul H. Orthostatic hypotension. The Merck Manual 2009. http://www.merckmanuals.com/professional/cardiovascular_disorders/symptoms_of_cardiovascular_disorders/orthostatic_hypotension.html
11. Roy Freeman. Neurogenic orthostatic hypotension. New England Journal of Medicine 2008; 358 (6): 615-624.

Post a Comment