THÔNG TIN Y HỌC VỀ CÁC BỆNH LÂY LAN QUA ĐƯỜNG SINH DỤC

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 12 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (02/02/2007) 

10/ HPV VACCINE MAY HELP TO PREVENT ANAL CANCER. 

Thuốc chủng mới chống human papillomavirus,đã xuất hiện trên thị truờng mùa hè năm qua, có thể có tiềm năng ngăn ngừa hàng ngàn trường hợp ung thư cổ tử cung.Nhưng các BS hy vọng thuộc chủng cung sẽ có thể ngăn ngừa một bệnh ít được biết đến hơn nhưng có tiềm năng gây tử vong,xảy ra ở những người đồng tính luyến ái,đó là ung thư hậu môn.HPV cùng loại có thể gây nên cả hai loại ung thư(ung thư cổ tử cung và ung thu hau mon)

Mặc dầu ung thư hậu môn có thể xảy đến cho bất cứ ai;nhung thường xảy ra nhất trên những người có bệnh sử giao hợp bằng hậu môn.Tỷ lệ xảy ra hàng năm khoảng 35 trường hợp trên 100.000 người,có lẽ gấp hai lần tỷ lệ xảy ra trên những người bị nhiễm HIV,bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch. 


Năm vừa qua,Food and Drug Administration đã chấp thuận sử dụng thuốc chủng HPV được, dành cho các nữ giới tuổi từ 9 đến 26 tuổi sau khi các nghiên cứu đã chỉ rõ rằng thuốc chủng có hiệu quả lớn chống lại những nhiễm trùng gây nên bởi 4 trong số 12 loai HPV,bao gồm những loại là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung và hậu môn.

"Về mặt sinh học,cổ tử cung tương tự với hậu môn,vì thế có nhiều hy vọng rằng vaccin có hiệu quả với ung thư cổ tử cung cũng sẽ có hiệu quả đối với ung thư hậu môn".BS Joel Palefsky,một GS Y Khoa của Đaị Học California,San Francisco,đã phát biểu như thế.Nhưng ông lưu ý rằng,hiệu quả của vaccin đối với ung thư hậu môn vẫn cần phải được chứng minh. 

Tỷ lệ ung thư hậu môn trên nhung người đồng tính luyến ái cũng tương tự với tỷ lệ của ung thư cổ tử cung,trước khi xuất hiện Pap smear,xét nghiệm cho phép phát hiện các bất thường tế bào tiền ung thư.Trong những năm gần đây,vài BS điều trị các bệnh nhân đồng tính luyến ái khuyên bệnh nhân của mình làm xét nghiệm Pap smears hậu môn,như là một bộ phận điều trị phòng ngừa thường lệ.

HPV là nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục thông thường nhất ở Hoa Kỳ,với 6,2 triệu người bị nhiễm trùng mỗi năm,theo thống kê của Centers for Disease Control and Prevention,mặc dầu ở nhiều người virus biến mất mà không có triệu chứng nào và cũng không biết là mình đã bị nhiễm bệnh.Và nhiều người đồng tình luyến ái không nhận thức rằng họ có một nguy cơ cao mắc bệnh ung thư hậu môn.

Các nhà điều phối ở Úc và Liên hiệp Châu Âu đã chấp thuận dung vaccin gọi là Gardasil và được bào chế bởi hãng Merck,cho các em trai tuổi từ 9 đến 15.Họ nêu lên các dữ kiện chứng tỏ rằng vaccin sinh ra một phản ứng miễn dịch ở các em trai này,mặc dầu tính hiệu quả đã không được chứng tỏ.

Cũng nhu đối với các thuốc cần toa bác sĩ,cac BS ở Hoa Kỳ có thể cho toa vaccin "không nhãn hiệu" (off label) cho bất cứ ai."Sự chấp thuận cần cho thương mãi hoá và phân phối thuốc,nhưng các thầy thuốc có thể sử dụng theo cách họ cảm thấy thích hợp".BS Jeffrey Klausner,Giám Đốc Phòng Ngừa Bệnh Nhiễm trùng bằng đường sinh dục,thuộc khoa y Tế công cộng,đã nói như vậy.

BS Eliav Barr,một giám đốc nghiên cứu lâm sàng của công ty dược phẩm Merck,nói rằng một số người đã nhận vaccin,nhưng công ty bị cản phân phối thuốc trừ phi Food and Drug Administartion chấp thuận cho sử dụng vaccin.Merck dang bảo trợ một thử nghiệm lâm sàng vaccin Gardasil trên 4000 đàn ông,trong đó có 500 người bị đồng tính luyến ái.Các kết quả đầu tiên được dự kiến vào cuối năm đến.

Việc tuyển mộ các người đồng tính luyến ái để thử nghiệm là một thách thức,các nhà nghiên cứu đã phát biểu như thế.Vaccin được sử dụng để ngăn ngừa một nhiễm trùng tiên khởi do virus,nhưng nhiều người trở nên bị nhiễm trùng chẳng bao lâu sau khi bắt đầu hoạt động sinh dục.Merck đã tuyển mộ các người bên nam giới ở lứa tuổi từ 16 đến 26 và những người này đã không có nhiều hơn năm người bạn đường phối ngẫu.
(INTERNAL HERALD TRIBUNE 1/2/2007) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 14 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (16/2/2007) 

9/ TÁC DỤNG HIỆP ĐỒNG ÂM TÍNH 

Bệnh SIDA và bệnh SỐT RÉT sống không hoà thuận với nhau. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ vừa chứng minh rằng có một tác dụng lẫn nhau giữa hai bệnh này nơi các người bệnh bị nhiễm đồng thời cả hai bệnh này. Các bệnh nhân bị nhiễm virus SIDA ,do sự suy giảm miễn dịch nên có nhiều nguy cơ hơn bị mắc bệnh sốt rét.Trái lại,các cơn sốt rét gây sự tăng sinh gấp mười lần lượng HIV trong máu ! Thế mà khả năng truyền bệnh SIDA tỷ lệ với nồng độ virus trong máu.
(LA RECHERCHE 2/2007) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 20 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (31/3/2007) 

8/ CẮT BAO QUY ĐẦU LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG ĐỐI VỚI PHỤ NỮ.

Người ta biết rằng cắt bao quy đầu(circoncision) có thể làm giảm 60% nguy cơ bị nhiễm siêu vi SIDA đối với nam giới. Ngược lại,theo các kết quả sơ khởi của một công trình nghiên cứu phối hợp của Hoa Ky và Ouganda,thì việc cắt bao quy đầu sẽ làm gia tăng ở các phụ nữ nguy cơ bị nhiễm HIV. Nếu các ông có huyết thanh dương tính(séropositif) đối với SIDA,không chịu kiêng cử mà lại giao hợp trong lúc sẹo giải phẫu đanh thành hình,thì các bà phối ngẫu sẽ có nguy cơ nhiều hơn bị gây nhiễm.Tuy nhiên,theo các chuyên gia,đây không phải là kết quả cuối cùng và các kết quả này rất có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như sự sử dụng biện pháp ngừa thai. 
(METRO 29/3/2007) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 23 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (23/4/2007) 

1/ TRÀ XANH BẢO VỆ CHỐNG BỆNH SIDA ?

Các nhà khoa học đã nhân diện một cấu chất trong trà xanh có khả năng đua tranh với siêu vi khuẩn HIV bằng cách ngăn cản tác dụng của siêu vi khuẩn này lên hệ miễn dịch.Chất cấu thành của trà xanh nêu trên là épigallocatéchine gallate (EGCG).EGCG đến tọa vị trước các thụ thể (récepteurs) CD4 của các T4 và như vậy ngăn cản virus HIV liên kết với hệ miễn dịch.Theo M.Willamson,sự việc uống trà xanh có thể làm giảm nguy cơ bị nhiễm trùng bởi HIV và giới hạn sự khuếch tán của siêu vi khuẩn.Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho biết rằng nước trà xanh không phải là một điều trị chống bệnh Sida và dầu sao đó cũng không phải là một phương cách chắc chắn đề phòng ngừa nhiễm trùng HIV.

Đúng hơn nếu trà xanh kết hợp với các thuốc điều trị thường dùng có thể góp phần tạo cho các bệnh nhân có huyết thanh dương tính một cuộc sống có chất lượng hơn. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ đang còn ở trong một giai đoạn rất sớm sủa: còn cần phải thực hiện các nghiên cứu trên động vật trước khi có thể rút ra những kết luận về một hiệu quả bảo vệ khả dĩ của trà xanh.Các nhà nghiên cứu cũng nhắc lại rằng các nghiên cứu chỉ quan tâm đến khả năng in vitro của một thành phần hóa học của trà xanh trong việc phong tỏa sự nối kết giữa HIV với những CD4 của người. Nhưng đã nhiều lần được chứng tỏ rằng các chất có khá năng in vitro ngăn cản một nhiễm trùng do HIV lại không có thể như vậy trong tình huống thực tế. 
(LE JOURNAL DU MEDECIN 17/4/2007) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (6/5/2007) 

7/ BỆNH LẬU VÀ UNG THƯ BÀNG QUANG

Bệnh lậu (gonococcie hay blennorragie), là một nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục, có tần số gây bệnh gia tăng từ vài năm nay, với số giống gốc (souches) lậu cậu đề kháng với kháng sinh gia tăng. Theo một công trình nghiên cứu trên 51.000 người đàn ông, nguy cơ bi ung thư bàng quang sẽ 2 lần cao hơn trong trường hợp có tiền sử bệnh lậu. 

Phản ứng viêm tại chỗ và sự tồn lưu của cặn nước tiểu sau khi tiểu tiện giải thích sự liên kết giữa nhiễm trùng thường gây đau đớn này và nguy cơ xuất hiện u bàng quang. 
(SCIENCES ET AVENIR 5/2007)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 60 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (21/1/2008) 

2/ BỆNH GIANG MAI ĐƯỢC MANG ĐẾN CHÂU ÂU BỞI CHRISTOPHE COLOMB

Một công trình nghiên cứu về tiến triển di truyền của vi khuẩn gây bệnh giang mai đã công nhận là đúng giả thuyết về một tác nhân nhiễm khuẩn được mang từ Châu Mỹ về Châu Âu bởi đoàn thám hiểm của Christophe Colomb. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, Anh và Canada đã công bố hôm thứ hai 14/1, trên site của tạp chí on-line PloS Neglected Tropical Diseases, một bài báo có khuynh hướng xác nhận rằng bệnh giang mai đã được mang vào châu Âu bởi Christophe Colomb, như thế chấm dứt một cuộc tranh cãi từ 500 năm nay về nguồn gốc của bệnh này. Các nhà di truyền học đã tái tạo cây phả hệ của những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes) nguồn gốc của bệnh giang mai.

Vào năm 1495, thành Naples thất thủ rơi vào tay của vua nước Pháp, Charles VIII, và của đạo quân chiếm đóng gồm những lính đánh thuế. Đạo quân này, được chỉ huy bởi Louis d’Orléans và hiệp sĩ Bayard, lúc đó đang là nạn nhân của một trận dịch kinh hoàng của một loại bệnh dịch hạch (peste) mới. Một căn bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục, được đặt tên là bệnh thành Naples (maladie de Naples). Đó là trận dịch giang mai đầu tiên ở châu Âu. Dịch bệnh lan tràn nhanh chóng qua trung gian của các lính đánh thuê trở lại quê nhà.

Sự việc bệnh giang mai xuất hiện một ít lâu sau khi Christophe Colomb và binh sĩ trở về từ Tân Thế Giới (chỉ 3 năm sau khi khám phá châu Mỹ), khiến người ta nghĩ rằng căn bệnh này xuất phát từ châu Mỹ và được mang về châu Âu từ Tân Thế Giới, bởi các thủy thủ phục vụ vua Tây Bạn Nha, vì lẽ những trường hợp bệnh giang mai đã được mô tả trong số các thủy thủ này.

Giả thuyết này, trước đây gây nhiều tranh cãi, ngày nay đã được xác nhận nhờ di truyền học (PloS Neglected Tropical Diseases, 15/1/2008). Các nhà nghiên cứu của Emory University (Atlanta,Georgie) đã so sánh các séquence của các bộ di truyền (génome) của các thành viên khác nhau của họ các tréponème, những vi khuẩn gây nhiều bệnh, trong đó có bệnh giang mai. Như thế, các nhà nghiên cứu đã có thể tái tạo cây phả hệ xác lập nguồn gốc châu Mỹ của bệnh giang mai (“grande vérole”).

MŨI TÊN TẨM THUỐC ĐỘC CỦA CUPIDON

Từ thời thượng cổ, các người Amérindiens đã bị một căn bệnh tương tự với bệnh giang mai. Và vài người trong các thành viên của đoàn thám hiểm của Colomb đã có những triệu chứng đặc hiệu, điển hình của bệnh nhiễm trùng này: các hạch sưng tấy lên, sốt tăng cao và “mũi tên tẩm thuốc độc của Cupidon” làm biến dạng thân thể. Một giả thuyết khác, nảy sinh vào thế kỷ XX, cho rằng người ta đã lẫn lộn bệnh giang mai với các bệnh khác, như bệnh hủi (lèpre). Đối với các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, sự việc không có các dấu vết thương tổn xương (đặc điểm của bệnh giang mai) trên các bộ xương của những người châu Âu và Bắc Phi trước cuối thế kỷ thứ XV, là chứng cớ xác nhận nguồn gốc châu Mỹ của căn bệnh này.

Trong cùng công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tái tạo phả hệ của các tréponèmes khác gây bệnh chủ yếu ở trẻ em và được lan truyền bởi sự tiếp xúc qua da hoặc bằng nước miếng. Đó là các bệnh pian, bejel và pinta.
(LE FIGARO 15/1/2008) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 65 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (22/2/2008) 

6/ BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC LẠI BÙNG NỔ Ở PHÁP.

Việc gia tăng trở lại những nhiễm trùng bởi lậu cầu, bởi chlamydia và của bệnh giang mai là hậu quả của sự tái tục các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

Chính sách ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục (MST : maladies sexuellement transmissibles) đang bị nguy ngập. Tất cả các yếu tố chỉ báo cho thấy có một sự gia tăng trở lại các bệnh nhiễm trùng (lậu cầu, chlamydia, giang mai), được lây truyền lúc giao hợp (dù cho đó là giao hợp đồng tính hay dị tính). Thật vậy, bảng thông báo dịch tễ hàng tuần của Viện theo dõi y tế đã công bố tuần này các con số xác nhận về sự gia tăng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở Pháp. Ngoài các hậu quả về mặt y tế riêng cho các nhiễm trùng này (các bệnh mãn tính nơi người, nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ), các dữ kiện này thể hiện sự tái tục những hành vi tính dục có nguy cơ, nói lên việc sử dụng phương tiện bảo vệ ít hơn và do đó mang lại một nguy cơ truyền virus bệnh Sida gia tăng.

Các nhiễm trùng do lậu cầu có đặc điểm là có một thời gian tiềm phục ngắn và cho những triệu chứng “ ồn ào ” nơi đàn ông. Do đó những nhiễm trùng này là một chứng tỏ rất rõ về các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).

Một mạng lưới 200 phòng xét nghiệm phân tích mỗi năm số giống gốc các lậu cầu được phân lập. Suốt trong 3 năm qua, sự gia tăng số trường hợp xảy ra một cách thường xuyên, với 50% được thêm vào trong năm 2006 so sánh với năm 2005. Với một sự gia tăng rất rõ rệt nơi các phụ nữ (thêm 264%) và ở tỉnh (thêm 94%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 30 tuổi đối với đàn ông và 23 tuổi đối với phụ nữ. Sau cùng phải ghi nhận một sự tiến triển của các giống gốc đề kháng với ciprofloxacine, một trong những kháng sinh chuẩn trong điều trị bệnh này.

Nhiễm trùng do chlamydia trachomatis thường xảy ra nhất ở phụ nữ. Nhiễm trùng này chỉ gây ít triệu chứng nhưng nếu không được điều trị, có thể gây nên những thương tổn nơi các vòi trứng, nguyên nhân của vô sinh hoặc có thai ngoài tử cung. Từ đầu những năm 2000, một sự gia tăng các nhiễm trùng do chlamidia được quan sát ở Pháp, cũng như trong tất cả các nước công nghiệp hóa khác.Thí dụ ở Anh, sự gia tăng này có thể được quy cho công tác điều tra phát hiện được thực hiện một cách có hệ thống trong chiến dịch chống vô sinh nơi những người dưới 25 tuổi. Phải nhấn mạnh rằng ở Pháp, từ năm 2003 đến 2006, số các trường hợp nhiễm trùng do chlamydia đã gia tăng 55% nơi đàn ông và 62% nơi phụ nữ. Nhưng còn cần phải biết xem một sự gia tăng như thế là do sự tiến triển của bệnh hay chỉ do sự cải thiện của công tác điều tra phát hiện và của chẩn đoán.

ĐẨY MẠNH TRỞ LẠI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA

Bệnh giang mai gần như đã biến mất ở nước Pháp trong những năm 1990 để rồi lại xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2000, hầu như chỉ xảy ra ở những người đồng tính (homosexuel) hay lưỡng tính (bisexuel), đặc biệt là ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus sida. Mặc dầu những chiến dịch thông tin và phòng ngừa được phát động, bệnh có tiềm năng nghiêm trọng này vẫn không tỏ dấu hiệu lùi bước.Từ năm 2000 đến 2006, có 2.305 trường hợp giang mai đã được chẩn đoán ở Pháp. Sau một đợt giảm nhẹ vào năm 2005, số các trường hợp lại tăng lên năm 2006, đặc biệt là ở Ile-de-France và trong vùng Bắc Pas-de-Calais. Số các trường hợp giang mai bắt đầu xuất hiện ở những người dị tính (hétérosexuel) mà mãi đến nay phần lớn không bị nhiễm bệnh. Việc công bố những dữ kiện này hẳn phải khiến chính quyền cần phải phát động trở lại những chiến dịch phòng ngừa nhằm vào các hành vi tính dục có nguy cơ.
(LE FIGARO 6/2/2008) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 66 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (29/2/2008) 

1/ NHỮNG LỜI KHUYẾN NGHỊ CỦA THỤY SĨ VỀ BỆNH SIDA GÂY NÊN CUỘC TRANH CÃI

Các cặp ổn định, trong đó một trong hai người phối ngẫu có huyết thanh dương tính (séropositif), nhưng nhờ điều trị, không còn virus gây bệnh sida (VIH) có thể được phát hiện trong máu, như vậy họ có thể không cần đến các phương tiện phòng ngừa nữa hay không ? Vâng, các chuyên viên Thụy Sĩ của Uỷ Ban Liên bang về các vấn đề liên quan đến Sida (CFS) đã trả lời như vậy trong một văn kiện được công bố hôm thứ tư 30 tháng giêng. Một lập trường bị cho là còn quá sớm bởi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (OMS) và Onusida hay ở Pháp bởi Hội đồng sida quốc gia.

Các chuyên gia Thụy Sĩ phát xuất từ một điều chứng nhận đã được nhất trí : từ năm 1996, việc áp dụng điều trị những phối hợp thuốc antirétroviraux không những đã biến đổi tiến triển của bệnh Sida nơi những người bị nhiễm trùng, mà còn làm giảm sự lan truyền của VIH. Nguy cơ lan truyền càng quan trọng khi số các bản sao (exemplaires) của virus trong máu (còn được gọi là charge virale) được tăng cao. Nếu được theo đuổi tốt, điều trị antirétroviral sẽ làm cho charge virale không thể phát hiện được trong máu (dưới 40 bản sao của VIH cho mỗi ml) máu. Trong trường hợp như thế, liệu những giao hợp có còn cần phải được bảo vệ nữa hay không?

Các chuyên gia Thụy Sĩ dựa trên 3 công trình nghiên cứu quy tụ tổng cộng 548 cặp dị tính (hétérosexuel), với huyết thanh dương tính nơi một trong hai người phối ngẫu. Các nghiên cứu không cho thấy một trường hợp truyền bệnh nào với một điều trị được theo đuổi tốt và một charge virale không thể phát hiện được trong máu. CFS kết luận rằng « sự áp dụng nhất quán một điều trị antirétroviral cho phép loại bỏ mọi nguy cơ lan truyền quan trọng ».

Ba điều kiện cần phải hội đủ để không khỏi phải dùng biện pháp bảo vệ lúc giao hợp: tuân thủ «sát» điều trị có bác sĩ gia đình theo dõi, một charge virale không thể phát hiện được trong máu từ ít nhất 6 tháng và người có huyết thanh dương tính không bị một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục nào khác. Do đó quyết định không dùng biện pháp phòng ngừa nữa là thuộc vào nguời có huyết thanh âm tính, ủy ban đã nói như vậy.

« VẪN LUÔN THẬN TRỌNG »

Trong một thông báo chung, Onusida và OMS nhắc lại rằng sự việc một charge virale không thể phát hiện được trong máu “ loại bỏ hoàn toàn nguy cơ truyền virus ” là điều không được chứng minh và nhấn mạnh tầm quan trọng của “ những phương pháp phòng ngừa có hiệu quả và đã được thử thách chống lại VIH”.
(LE MONDE 7/2/2008) 

9/ THUỐC MỚI CHỐNG BỆNH SIDA 

Raltégravir, chất ức chế intégrase, enzyme cần thiết cho qua trình tăng đôi (réplication) của virus bệnh Sida, vừa được cho phép bán trên thị trường ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Thuốc này ngăn cản virus tăng sinh trong các tế bào lành mạnh. Hiện nay thuốc được sử dụng bởi 7.600 người có huyết thanh dương tính (séropositif) trên thế giới, trong đó 1.300 ở Pháp. Thuốc được chỉ định trong các trường hợp đề kháng với một trong 3 thuốc được dùng trong trithérapie (điều trị chuẩn chống bệnh Sida). 
(PARIS MATCH 20/2-27/2/2008) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 77 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH ( ) 

5/ BỆNH SỐT RÉT, NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH TỐT NHẤT CỦA BỆNH SIDA

Ở phụ nữ có thai, nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng nguy cơ truyền virus bệnh sida vào phôi thai. Các nhà nghiên cứu Pháp và Cameroun vừa chứng tỏ một trong các cơ chế của hiện tượng này. Elisabeth Menu là nhà nghiên cứu nữ trong đơn vị điều hòa các bệnh nhiễm trùng bởi rétrovirus ở Viện Pasteur Paris và phụ trách nghiên cứu ở Inserm.

Hỏi : Làm sao bà đã quan tâm đến mối liên hệ giữa bệnh sốt rét và bệnh sida ? 
Elisabeth Menu : Đó một quan sát khác thường được thực hiện ở Cameroun trong lúc tiến hành một công trình nghiên cứu về phòng ngừa sự truyền virus sida từ bà mẹ sang trẻ em vào lúc sinh. Chúng tôi đã chứng nhận rằng số các phụ nữ truyền virus sida cho đứa con là quan trọng hơn vào một vài mùa trong năm. Mặt khác, điểm cao của sự truyền này có cùng tính chu kỳ với các đỉnh cao của lượng nước mưa được đo, với một chênh lệch ba tháng. Như vậy, một cái gì đó, do mưa mang lại, đã làm gia tăng sự truyền HIV từ người mẹ sang đứa con. Chúng tôi đã nghĩ đến bệnh sốt rét. Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập rằng nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng lượng HIV trong máu của những người huyết thanh dương tính.

Hỏi : Hậu quả của mối tương tác giữa ký sinh trùng sốt rét và virus sida ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi đã chứng tỏ in vitro rằng ký sinh trùng sốt rét có thể làm phát khởi một sự tăng sinh mạnh mẽ virus sida trong các tế bào nhau (placenta).Thế mà sự việc có nhiều virus hơn trong nhau dẫn đến nguy cơ gia tăng nhiễm trùng thai nhi bởi virus.

Hỏi : Bà đã làm thế nào để chứng tỏ điều đó ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi đã làm nhiễm trùng in vitro các tế bào của nhau (các lá nuôi, trophoblastes) với virus sida. Rồi chúng tôi đã đặt các tế bào nhau bị nhiễm trùng này tiếp xúc với một protéine của ký sinh trùng sốt rét. Protéine này có thể được biểu hiện ở bề mặt của những hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng. Sau đó protéine này cho phép các hồng cầu bám vào các lá nuôi của nhau. In vitro, chúng tôi đã chứng tỏ rằng protéine của ký sinh trùng này, lúc liên kết với các lá nuôi bị nhiễm bởi virus sida, làm gia tăng sự tăng sinh của HIV trong các tế bào này.

Hỏi : Bằng cơ chế nào ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi nghĩ rằng việc gắn protéine này của ký sinh trùng làm phát khởi sự sản xuất bởi các tế bào của nhau, một chất được gọi là TNF-alpha.Thật vậy, chúng tôi đã tìm thấy nhiều chất này chung quanh các tế bào của chúng tôi . Thế mà TNF-alpha được biết là làm gia tăng sự tăng sinh của virus sida. 
Nguồn : LA RECHERCHE (5/2008)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 78 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (17/5/2008 

8/ CÁC GIÁO SƯ GALLO VA MONTAGNIER MONG MUỐN CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG BỆNH SIDA ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG

Từ khi khám phá ra virus bệnh sida, cách nay 25 năm, căn bệnh này đã gây nên 25 triệu nạn nhân trên thế giới. Các Giáo sư Luc Montagnier và Robert Gallo, các nhà khám phá virus sida chỉ cách nhau vài tháng, hôm qua, vào lúc khai mạc của cuộc hội thảo ở Paris nhân lễ kỷ niệm năm thứ 25 của việc khám phá virus này, đã phàn nàn về sự chậm chạp của các tiến bộ trước trận dịch bệnh sida. Lễ kỹ niệm này không phải là một “lễ ca ngợi” (célébration) mà là một “lễ tưởng niệm” (commémoration), bởi vì virus vẫn luôn luôn còn đó, giáo sư người Pháp Luc Montagnier đã lấy làm tiếc khi phát biểu như vậy. Ông và nhóm nghiên cứu của ông của Viện Pasteur đã thực hiện những mô tả đầu tiên về virus sida trong tạp chí Science, ngày 20 tháng 5 năm 1983. 

“Đúng ra tôi ước mong cử hành với qúy vị việc kết thúc bệnh Sida, hơn là lễ kỷ niệm lần thứ 25 khám phá virus này”, ông đã tuyên bố như vậy trước nhiều trăm chuyên gia họp ở Viện Pasteur. Nhà sinh học nổi tiếng sau đó truớc báo chí, đã lấy làm tiếc rằng “ sự việc không tiến triển nhanh hơn” và rằng các nhà nghiên cứu không có tinh thần “đổi mới hơn”. “Chúng tôi không thỏa mãn”, và hy vọng trong một thời gian không lâu nữa một vaccin điều trị nhằm phục hồi hệ miễn dịch sẽ được khám phá.

Giáo sư người Mỹ Robert Gallo, người đã xác nhận, cùng với nhóm nghiên cứu của ông thuộc National Cancer Institute để Bethesda, sự phân lập virus vào năm 1984, về phần mình, đã lấy làm tiếc cho các thử nghiệm quy mô lớn của vaccin. “Đã có những tiến bộ lớn, nhưng cũng có những sai lầm lớn, và còn có nhiều việc để làm”.

Cả hai cũng đã nhấn mạnh rằng các căng thẳng ngày xưa, và những tranh cãi quanh quyền tác giả của công cuộc khám phá virus bệnh sida là đã thuộc về dĩ vãng xa xăm. “Chúng tôi hiện nay là đồng nghiệp và là bạn”, BS Gallo đã đảm bảo như vậy, cho rằng “sự ganh đua dẫn đến sự sáng tạo”. 

Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne Bachelot, về phần mình, đã lấy làm tiếc rằng “hôm nay, vào giờ phút trận dịch đã đốn ngã 25 triệu người, vẫn còn có bài diễn văn vạch mặt chỉ tên” 

ƯU TIÊN LỚN

Theo bà bộ trưởng, công cuộc nghiên cứu bệnh sida “ mang những hy vọng lớn ” vẫn là “ ưu tiên lớn ” của Bộ y tế. Bà cũng đã ghi nhận rằng cần phải huy động để săn sóc bệnh nhân và bảo vệ những quyền lợi của họ. Về phần mình, Jean-François Delfraissy, giám đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida (ANRS) đã tiên đoán rằng căn bệnh này sẽ vẫn là trận dịch của thế kỷ XXI và ông đã lợi dụng lễ tưởng niệm này để kêu gọi chính quyền tiếp tục duy trì các kinh phí về nghiên cứu bệnh Sida. 
Nguồn : LE FIGARO (20/5/2008)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 81 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (13/6/2008) 

8/ NĂM 2007 CÓ 3 TRIỆU NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ CHỐNG BỆNH SIDA TRONG THẾ GIỚI THỨ BA

Cuối năm 2007, trong các nước “có lợi tức thấp hoặc trung bình”, các bệnh nhân nhận được điều trị chống lại virus của sida (VIH) là gần 1 triệu trường hợp nhiều hơn vào cuối năm 2006, một bản báo cáo của OMS và của Onusida đã chỉ rõ như vậy. Điều này mang số bệnh nhân được điều trị lên khoảng 3 triệu, hoặc 7 lần nhiều hơn cách nay 4 năm. Mục tiêu của sáng kiến “ 3 triệu từ nay đến năm 2005 ”, nhằm vào các nước của thế giới thứ ba, đã đạt được nhưng với 2 năm bị chậm trễ.

Các cơ quan của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh sự gia tốc toàn bộ các mũi tiến, kể cả trong những lãnh vực phòng ngừa và phát hiện. “ Vào cuối năm 2007, người ta ước tính rằng 200.000 trẻ em theo một điều trị kháng rétroviral, so với 127.000 năm 2006 và 75.000 năm 2005 ”, văn kiện nói rõ như vậy. Vào năm 2007, 33% các phụ nữ có thai với huyết thanh dương tính đã nhận các antirétroviraux để ngăn ngừa sự lây truyền VIH cho các con của họ, so với 10% năm 2004. Số các phụ nữ có thai được xét nghiệm tìm VIH đã lên 18% trên thế giới, so với 16% năm 2006 và 10% năm 2005.

Năm 2007, với 2,5 triệu các lây nhiễm mới, tình hình còn lâu mới chế ngự được. 

TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA.

Theo OMS và Onusida, “ chỉ 31% những người cần được điều trị trong các nước có lợi tức thấp hay trung bình, là được hưởng một điều trị như thế vào năm 2007 ” . Ngoài ra, đa số những người sống với VIH/sida mà không hay biết về tình trạng của họ và không tiếp cận với những dịch vụ phòng ngừa và điều trị. 

Bảng báo cáo chủ trương tăng cường vai trò của lãnh vực y tế trong phòng ngừa VIH, bằng cách làm gia tốc “ sự thực thi những can thiệp đã có hiệu quả như cắt bao quy đầu, các chiến lược làm giảm các nguy cơ, sự sử dụng túi dương vật, sự phát hiện tìm VIH trong các sản phẩm máu và sự kết hợp vai trò phòng ngừa trong các chương trình có liên quan đến bệnh lao phổi, và đến sức khỏe bà mẹ và sinh sản ”. Về việc cắt bao quy đầu, một công trình được công bố ngày 2/ 6 , trong tạp chí Plos Medicine, thực hiện tại một quận ở Ouganda, chứng tỏ rằng việc cắt bao quy đầu không dẫn đến những biến chứng phụ trên những người có huyết thanh dương tính. 
Nguồn : LE MONDE 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 86 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (1/8/2008) 

2/ SIÊU VI TRÙNG BỆNH SIDA SẼ CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN BẰNG MỘT TRẮC NGHIỆM NƯỚC BỌT ĐƠN GIẢN

Đặt một ít nước miếng lên một chiếc que nhỏ, rồi đưa vào trong một ống nghiệm, và chờ từ 20 đến 40 phút …Nếu người được trắc nghiệm mang HIV, một đường tím sẽ hiện ra trên đỉnh của chiếc que nhỏ này. Là một công cụ phát hiện nhanh chóng hơn nhiều so với một xét nghiệm lấy máu thông thường, OraQuick sử dụng các kháng thể để phát hiện sự hiện diện của virus HIV (immunochromatographie). Sự đánh giá được thực hiện ở Ấn Độ bởi các nhà khoa học (đại học McGill, Montréal), cho thấy một sự phù hợp 100% với các xét nghiệm máu.
Nguồn : SCIENCE ET VIE (7/2008)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 89 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (16/08/2008) 

7/ CÁC BỆNH NHÂN BỊ SIDA ĐÃ GIÀNH THÊM ĐƯỢC 13 NĂM TUỔI THỌ

Trong vòng 10 năm, nhờ phép trị liệu gồm 3 thứ thuốc (trithérapie), bệnh Sida trong các nước phát triển đã đi từ tình trạng bệnh chết người (maladie mortelle) sang thành bệnh lý mãn tính (pathologie chronique).

Trong các nước phát triển, hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm bởi siêu vi trùng sida, hay VIH, từ năm 1996, đã gia tăng 13,3 năm. Năm 1996 là năm các thầy thuốc đã bắt đầu kê toa những phối hợp antirétroviraux, được biết hơn dưới tên “trị liệu pháp gồm 3 thứ thuốc” (trithérapie). Trong một công trình nghiên cứu được xuất bản hôm qua bởi tạp chí Anh The Lancet, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, trong đó có nhiều người Pháp, được lãnh đạo bởi Giáo Sư Robert Hogg của trung tâm nghiên cứu về bệnh Sida của Vancouver (Canada), đã so sánh các tỷ lệ tử vong của những người bệnh trong các thời kỳ 1996-1999, 2000-2002 và 2003-2005. 

Theo sự đánh giá này (thu thập những kết quả của 14 công trình nghiên cứu, được thực hiện trên một tổng số 43.085 bệnh nhân sống ở Bắc Mỹ và châu Âu), tỷ lệ tử vong đã hạ gần 40%. Nhất là hy vọng sống toàn bộ (espérance de vie totale) của những bệnh nhân tuổi 20, được điều trị bằng ba thứ thuốc, đã từ 56,1 tuổi tăng lên 69,4 tuổi. Hoặc một sự gia tăng đáng kể 13 năm, từ năm 1996 đến 2005.

Theo The Lancet, những tiến bộ ly ky này là do liệu pháp 3 thứ thuốc (trithérapie), trong vòng chưa được 10 năm, đã trở nên “hiệu quả hơn, được dung nạp tốt hơn và dễ định liều lượng hơn”. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu ghi nhận những chênh lệch quan trọng giữa vài nhóm bệnh nhân. Ví dụ, những người bị nhiễm bệnh sau khi chích thuốc ma túy có một hy vọng sống rõ rệt thấp hơn so với những người khác (52,6 tuổi so với 64,7 tuổi). Mức chênh lệch đạt đến 18 tuổi tùy theo các bệnh nhân đã được điều trị sớm hay chậm chống lại bệnh sida: 70,4 tuổi đối với những người được điều trị sớm, so với 52,4 tuổi đối với những người được điều trị muộn. Sau cùng, phụ nữ có một hy vọng sống hơi cao hơn đàn ông (64,2 đối với 62,8), sự khác nhau này có thể được giải thích là các phụ nữ thường bắt đầu điều trị sớm hơn.

“Điều tạo nên sức mạnh của các kết quả này, đó là do chúng thu được từ một số lượng rất lớn các bệnh nhân, giáo sư Jean-François Delfraissy, giảm đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu chống bệnh sida và các bệnh viêm gan (ANRS) đã nhấn mạnh như vậy. Công trình nghiên xác nhận một lần nữa rằng sida, khởi thủy là một bệnh gây chết người, nhờ liệu pháp 3 thứ thuốc, đã trở thành một bệnh mãn tính kéo dài”.

TIẾN HÀNH PHÁT HIỆN SỚM HƠN

Mặc dầu bảng tổng kê là đáng phấn khởi, nhưng còn nhiều chặn đường phải đi qua. “Hy vọng sống của những bệnh nhân bị sida vẫn dưới hy vọng sống của người dân nói chung”. Giáo sư Delfrassy đề nghị cứu chữa tình trạng này bằng một phát hiện sớm hơn VIH và phục hồi tỷ lệ các tế bào miễn dịch CD4+, là những mục tiêu chính của virus. “Ở Pháp, gần một nửa các bệnh nhân có tỷ lệ CD4+ thấp hơn bình thường. ANRS dang hiệu chính những phương thức mới kết hợp liệu pháp 3 thứ thuốc với những điều trị có khả năng khôi phục CD4+ để làm giảm thêm nữa và ngay cả loại bỏ tỷ lệ tử vong cao hơn (surmortalité) liên kết với bệnh sida”. Sau cùng, The Lancet chứng nhận rằng không có các dữ kiện đối với những bệnh nhân trên 30 tuổi, cũng như đối với các bệnh nhân của các nước nghèo. Trong các nước nghèo, sự xuất hiện mới đây của liệu pháp 3 thứ thuốc, hiệu quả hơn những liệu pháp cách nay 10 năm, hẳn mang lại được nhiều hơn hy vọng sống cho những người bị bệnh sida. 
(LE FIGARO 26/7-27/7/2008)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 91 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (4/9/2008) 

7/ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ SIDA NHẤN MẠNH VAI TRÒ CHỦ YẾU CỦA SỰ PHÒNG NGỪA.

Tháng 8 vừa qua, khoảng 23.000 người tập hợp ở Mexico để nghe kết quả của những nghiên cứu về HIV và về các điều trị chống sida. Gia tăng cố gắng để phòng ngừa và chống lại sự phân biệt (discrimination), nguyên nhân làm duy trì dịch bệnh, là hai đề tài mạnh của Hội nghị quốc tế về sida XVII, khai mạc hôm 3/8 ở Mexico. 

Được công bố cách nay hai tuần, các con số mới nhất về tình trạng đại dịch do virus HIV, chứng tỏ số các trường hợp nhiễm trùng mới và tử vong năm 2007 đã giảm nhẹ, có thể cho cảm giác trấn an giả tạo. “Việc chấm dứt bệnh sida không ở trong tầm tay, Peter Piot, giám đốc ban chấp hành của Onusida đã cảnh cáo như vậy. Mỗi ngày có những người mới bị nhiễm trùng, gần 3 lần nhiều hơn là những bệnh nhân được điều trị bởi antirétroviral.

Vì vậy, Ban Ki-moon, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã biểu lộ sự lo lắng: “Hầu hết các nước vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt mục tiêu mà họ đã đề ra cách nay 2 năm vào lúc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, đó là mục tiêu mọi người đều có thể tiếp cận được các phương tiện phòng ngừa, điều trị, săn sóc và hổ trợ chống lại HIV vào năm 2010. Do đó, họ sẽ có những khó khăn lớn trong việc đạt được mục tiêu của Thiên niên kỷ cho sự phát triển (Millénaire pour le développement), đó là ngăn chận và làm đảo ngược sự lan tràn của bệnh sida từ nay đến 2015”.

Những cố gắng nghiên cứu đã mở rộng số các loại thuốc chống HIV có sẵn để sử dụng và, nhất là , những cố gắng để thay đổi nấc thang trong sự tiếp cận các điều trị của những nước nghèo, đã cho phép vượt qua, mặc dầu với 2 năm chậm trễ, cái mốc 3 triệu người được điều trị với antirétroviraux trong những nước này. Peter Piot kêu gọi “một sự phòng ngừa phối hợp” (une prévention combinée). Trong một bối cảnh được đánh dấu bởi những thất bại mới đây trong thử nghiệm vaccin phòng ngừa và của những thử nghiệm mới với các chất diệt trùng, sự phòng ngừa kết hợp này nhằm kết hợp những dạng thức khác nhau : túi dương vật (préservatif), giảm số bạn đường phối ngẫu, cắt bao quy đầu ….

Trong phiên họp khoáng đại, cựu Bộ trưởng Y tế Mexico, Jaime Sepulveda, đã nhấn mạnh về sự phát triển những nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá những loại phòng ngừa khác nhau : “Chúng ta có một tư tưởng tốt về điều trị cần phải có và về những bệnh nhân nào cần phải điều trị. Nhưng đây không phải là trường hợp đối với phòng ngừa ”.

Cuộc đấu tranh chống lại sự phân biệt (discrimination) là hệ luận của sự phòng ngừa. Như Ban Ki-moon đã giải thích, “ Trong những đất nước không có luật lệ để bảo vệ các gái mãi dâm, những người dùng ma túy và những người đồng tình luyến ái, chỉ có một bộ phận dân chúng là tiếp cận được với phòng ngừa ”. Ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nói thêm: “Không bảo vệ những nhóm người này, đó không chỉ trái với đạo đức ; điều đó không có một ý nghĩa gì trên phương diện y tế.” 

Vị tổng thống Mexico, Filipe Calderon, nhắc lại rằng phải “đương đầu không chỉ virus gây ra căn bệnh khủng khiếp này, mà còn các huyền thoại, các thành kiến, sự phân biệt, gây nên biết bao thiệt hại cho xã hội, cũng như chính virus vậy”. 
(LE MONDE 6/8/2008)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 96 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (10/10/2008) 

2/ GIẢI THƯỞNG NOBEL DÀNH CHO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI VIRUS

Giải thưởng Nobel cho các nhà khám phá các siêu vi trùng gây bệnh sida và papillome người. Giải thưởng Nobel về y học năm 2008 đã được trao cho các người Pháp Luc Montagnier và Françoise Barré-Sinoussi của Viện Pasteur vì đã khám phá ra virus gây bệnh sida năm 1983 và cho người Đức Harald zur Hausen vì những công trình của ông về ung thư của cổ tử cung

Người ta đâu có nạp đơn ứng viên để xin được giải thưởng Nobel về y học. Chính vì thế Françoise Barré-Sinoussi, sau khi đã hay tin hôm sáng thứ hai rằng bà đã được giải thưởng Nobel về y học, trong khi bà đang làm việc trong văn phòng của viện Pasteur Phnom Penh, bà đã không thể che dấu được sự ngạc nhiên và xúc động. Bà chia sẻ giải thưởng này với Luc Montagnier (được biết nhiều hơn), vì đã có công khám phá ra virus gây bệnh sida vào năm 1983. Hai nhà nghiên cứu người Pháp chia nhau một nửa của giải 1,02 triệu euros. Harald zur Hausen nhận nửa kia của giải. Đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu người Pháp nhận giải Nobel về y học từ năm 1980, là năm giải được trao cho giáo sư Jean Dausset. Việc trao giải thưởng này cho nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur, mà không có các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, cho phép kết thúc vĩnh viễn cuộc tranh cãi giữa Montagnier và Gallo. Hai nhà nghiên cứu này đã đấu tranh trong những năm dài, trước khi những công trình nghiên cứu trong việc khám phá virus gây bệnh sida của nhóm nghiên cứu người Pháp được công nhận là xảy ra trước nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ.

Ngày 20 tháng 5 năm 1983, trong một bài báo được công bố trong Science, một nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur Paris, được điều khiển bởi giáo sư Luc Montagnier, đã mô tả một virus mới, bị nghi là nguyên nhân của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (SIDA : syndrome d’immunodéficience acquise, hay AIDS : acquired immunodeficiency syndrome). Được phân lập từ một bệnh nhân với huyết thanh dương tính (séropositif), virus này đã được đặt tên là LAV vì siêu vi trùng này liên kết với bệnh hạch bạch huyết (lymphadénopathie). Công cuộc khám phá của Barré-Simoussi, 61 tuổi, và của giáo sư Luc Montagnier, 76 tuổi, “đã là thiết yếu cho sự thông hiểu hiện nay về sinh học và trị liệu kháng rétrovirus của bệnh này”, các chuyên gia của ủy ban Nobel đã ghi nhận như thế.

MỘT QUYỀN TÁC GIẢ ĐƯỢC CÔNG NHẬN

Quyền tác giả được công nhận là một quyết định dứt khoát trong mối tranh chấp giữa nhóm nghiên cứu của Montagnier với nhóm nghiên cứu của người Mỹ Gallo ; ông này được công nhận như là người cùng khám phá ra virus, nhưng ủy ban Nobel lại không nêu tên ông này trong bảng thông báo. Vào tháng 4 năm 1984, Gallo đã loan báo là đã phân lập được một virus giống với virus do Viện Pasteur khám phá. Sau khi những tài liệu nội bộ được tiết lộ, Gallo đã được công nhận, là có “cách cư xử khoa học xấu” . 

“Người ta biết rằng đó là một khám phá quan trọng nhưng người ta đã không đo lường được quy mô của trận dịch như người ta biết hiện nay” , Françoise Barré-Sinoussi đã nhớ lại như thế. “Người ta đã không đo lường được tác động của trận dịch lên lục địa châu Phi. Vào thời kỳ đó, người ta nói về căn bệnh của những người đồng tính luyến ái, của những người bị bệnh ưa chảy máu (hémophiles), của những người nghiện ma túy và người ta chưa có ý niệm rằng đó là một bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục (maladie sexuellement transmisible).” 

Chúng ta hãy nhắc lại rằng tác nhân gây bệnh sida phá hủy vài bạch cầu, điều này khiến cho bệnh nhân dễ bị những nhiễm trùng được gọi là cơ hội (infections opportunistes) như lao, viêm phổi do pneumocystis carinii (pneumocytose), bệnh toxoplasma (toxoplasmose) hay một vài khối u ung thư (thường nhất là sarcome de Kaposi).

Được truyền bằng đường sinh dục, máu, hay từ mẹ sang con lúc thai nghén hay lúc cho bú sửa, virus sinh sản bằng cách sống ký sinh trên các lympho bào T4 hay CD4, của những bạch cầu đóng vai trò nhạc trưởng của hệ miễn dịch.

Sau quá trình tăng sinh, các virus mới phá hủy tế bào mà chúng làm tổ và đến gây nhiễm các tế bào khác. Sự phá hủy này gây nên một sự suy yếu của hệ miễn dịch. “ Tầm quan trọng của các công trình của Barré-Sinoussi và Montagnier phải được xét đến trong khung cảnh của trận dịch ảnh hưởng lên gần 1% dân số thế giới ”, ủy ban Nobel đã ghi nhận như thế. “Sự thành công của liệu pháp rétrovirus đã cho phép làm gia tăng hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm bởi HIV, ngày nay tương tự với hy vọng sống của những người lành mạnh”. 
(LE SOIR 7/10/2008)

4/ SIDA ĐÃ XUẤT HIỆN NGAY THẾ KỶ THỨ XIX

Bệnh Sida xuất hiện 50 năm sớm hơn người ta tưởng và virus đã biến dị nhiều lần trước khi tăng sinh. Virus chịu trách nhiệm 95% những lây nhiễm hiện nay có thể đã chào đời giữa năm 1884 và 1924. Virus, nguyên nhân của trận đại dịch sida trên thế giới ngày nay, được khám phá năm 1981 và đã làm lây nhiễm 55 triệu người vào cuối năm 2007, đã đến từ đâu ? Một công trình nghiên cứu mới, được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Congo, Pháp và Bỉ và được công bố bởi tạp chí Nature, mang lại một ánh sáng mới về nguồn gốc của HIV

Mãi đến ngày nay, người ta nghĩ rằng HIV, siêu vi trùng gây suy giảm miễn dịch nơi người, đã xuất hiện vào khoảng năm 1930, ở châu Phi, do sự truyền giữa các loài (transmission interespèce) của một biến thể của virus dạng khỉ, từ con tinh tinh (chimpanzé) qua người, có thể xảy ra trong lúc săn bắn hay lúc ăn phải thịt bị nhiễm trùng. Một công trình nghiên cứu di truyền “ khảo cổ học ”, mà các kết quả được công bố trong tạp chí Nature, đặt thời điểm truyền bệnh này ít nhất nửa thế kỷ trước đó, hoặc một thế kỷ trước khi virus trở nên một vấn để y tế công cộng quan trọng, vào năm 1981, tức hai năm trước khi Montagnier và Gallo nhận diện được virus.

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành như thế nào để đạt được kết luận này ? Họ đã phân tích một mẫu nghiệm virus HIV, trích từ một bệnh phẩm của hạch bạch huyết được bảo quản trong paraffine và rất mới đây vừa được làm cập nhật. Bệnh phẩm này, được bảo quản ở khoa cơ thể bệnh học của Đại học Kinshasa, rồi được chuyển về Đại học Arizona, vốn đã được lấy từ một phụ nữ 48 tuổi ở Kinshasa vào năm 1960. Michael Worobey (đại học Tucson, Arizona) đã phân tích bệnh phẩm này và đã khám phá, trong một mẫu nghiệm sinh thiết của một hạch bạch huyết của người phụ nữ này, dấu vết của virus bệnh sida. Đó là các acide nucléique, hay nói một cách khác, là các mảnh của các gène của ADN, đã được bảo quản như thế trong 48 năm. Thế mà, mãi đến ngày nay, chỉ có một mẫu nghiệm duy nhất khác, có từ trước năm 1976, được khám phá vào năm 1959, cũng ở Kinshasa.

Các nhà nghiên cứu sau đó đã phân tích di truyền hai giống gốc 1959 và 1960 (ZR59 và DRC60), và đã so sánh chúng với một trăm mẫu nghiệm mới đây, để quan sát những biến dị đã xảy ra. Kết quả ? Sự so sánh cho thấy rằng hai virus đã rất khác nhau, khiến có thể suy đoán rằng tổ tiên chung của virus này đã xuất hiện sớm hơn nhiều điều mà người ta đã nghĩ trước đây.

ADN của virus HIV biến dị một triệu lần nhanh hơn ADN của một loài động vật, BS Paul Sharp đã ước tính như thế trong một bài báo của Nature. Trong vài thập niên, một số không phải là ít những biến dị của virus bệnh sida đã được quan sát.

Theo các nhà nghiên cứu, nếu người ta tính đến tốc độ biến dị của virus bệnh sida, thì tổ tiên nguồn gốc của trận đại dịch thế giới ngày nay, ắt hẳn phải cổ hơn nhiều.Trong lịch sử của trận dịch nơi người, tổ tiên virus của HIV là một virus của sự giảm miễn dịch của khỉ (SIV). Virus cổ đại này đã gây nhiễm tự nhiên các con tinh tinh ở vùng Trung và Tây phi. 

Những nghiên cứu khảo cổ học về một virus có ích lợi gì? “ Như đối với virus cúm năm 1918, một sự hiểu biết sâu rộng hơn về tiến triển của virus và phương cách mà nó biến dị từ những trường hợp đầu tiên ở châu Phi, có thể cho một cái nhìn chính xác hơn về độc lực và về tiến triển của những giống gốc hiện nay. Điều này có thể cho những hướng để ngăn ngừa trận dịch”, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như thế. 33 triệu người sống với virus HIV và 28 triệu người đã chết vì nó từ năm 1981. 
(LE SOIR 3/10/2008) 
(LE FIGARO 2/10/2008)


5/ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CẮT BAO QUY ĐẤU CHỐNG SIDA

Vào lúc mà hiệu quả của sự cắt bao quy đầu như là phương tiện phòng ngừa đang gây tranh cãi, những dữ kiện mới trên hiện trường vừa được trình bày ở Hội Nghị Quốc tế về sida lần thứ XVII, diễn ra ở Mexico. Chúng ta hãy nhớ rằng 33 triệu người bị nhiễm trùng bởi VIH vào cuối năm 2007 .

Từ tháng 12/ 2006, người ta biết rằng sự cắt bao quy đầu nơi nam giới làm giảm 60%. các nguy cơ truyền VIH. Thật vậy bao quy đầu được cấu tạo bởi những tế bào đặc biệt rất dễ bị thương tổn bởi virus. Đó cũng là một vùng mảnh dẻ, nơi các thương tổn vi thể có thể xuất hiện lúc giao hợp. Sau cùng, môi trường nóng và ẩm của nó làm dễ sự tồn tại của VIH sau khi bị lây nhiễm. Do đó, cắt bỏ bao quy đầu làm giảm những cửa đi vào của virus. Da của dương vật cứng lại, trở nên một hàng rào chắn tốt hơn. Vấn đề duy nhất : cắt bao quy đầu làm giảm nguy cơ, nhưng không có tác dụng bảo vệ.

Làm sao tránh những cảm giác an toàn giả tạo và nhiều hành vì nguy cơ hơn?.Một công trình nghiên cứu của Pháp, của cơ quan nghiên cứu quốc gia về bệnh sida, thực hiện trên 1.201 người đàn ông và 1.399 phụ nữ của quận Orange Farm ở Nam Phi, cho thấy rằng 55% đàn ông đã tuyên bố là đã được cắt bao quy đầu nhưng thực ra không phải là như vậy. Sự không hiểu biết này tăng cường ý tưởng rằng, để được chấp nhận và có hiệu quả, sự cắt bao quy đầu phải được thực hiện miễn phí và kết hợp với một mức cao về thông tin. 
(SCIENCES ET AVENIR 9/2008)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 107 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (2/1/2009) 

2/ 30 PHÚT ĐỂ CHẤN ĐOÁN BỆNH SIDA

Đây là một đầu tiên ở Pháp. Tại Montpellier, những xét nghiệm phát hiện nhanh bệnh sida từ nay được đưa vào sử dụng. Trong vòng 30 phút và chỉ với một giọt máu lấy nơi đầu của ngón tay và được đặt trên một dải phản ứng (bandelette réactive), những trắc nghiệm này, cũng như những trắc nghiệm được dùng bởi những bệnh nhân đái đường, sẽ cho phép biết được tình trạng huyết thanh của một người, 3 tháng sau một giao hợp có khả năng bị lây nhiễm. Một trường hợp huyết thanh dương tính phải được xác nhận bởi một xét nghiệm máu cổ điển, được thực hiện trong môi trường bệnh viện. Hiện nay, ở Pháp, 36.000 người không hay biết rằng mình có huyết thanh dương tính và do đó không được theo dõi về mặt y tế.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2009)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 131 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (20/6/2009) 

8/ CHÈ XANH ĐƯỢC DÙNG NHƯ RÀO CHẮN CHỐNG LẠI SIDA.

Một dung dịch polyphénol ức chế một protéine của tinh dịch, vecteur của nhiễm trùng.

Một thành phần của chè xanh có thể tỏ ra hiệu quả để tránh sự lây nhiễm bởi virus của sida trong lúc giao hợp, một công trình nghiên cứu được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences đã xác nhận như vậy.

Công trình nghiên cứu này của đại học Heibelberg và của Viện virus học thực nghiệm của Hamburg đã cho thấy rằng gallate d’epigallocatechin (EGCG), một polyphénol hay tanin thực vật của chè xanh, có khả năng ức chế một protéine của tinh dịch có khuynh hướng dùng làm vecteur và tác nhân làm lan truyền của virus của sida.

“ Một phần của peptide, được chứa trong tinh dịch người, làm tăng cường sự nhiễm trùng bởi HIV một cách hằng định. Các sợi nhỏ làm lan truyền (fibrilles propagatrices) nhiễm trùng của virus HIV bởi tinh dịch, bắt giữ các yếu tố của virus và móc chúng và các tế bào bia của chúng, làm lan tràn sự hợp nhất của virus trong những tế bào này ”, các nhà nghiên cứu của Heinrich-Pette-Institute de Hambourg đã viết như vậy.

“ Vì những lý do này, chúng tôi đã cho rằng việc đưa vào một chất ức chế các sợi nhỏ này, như là chất diệt trùng , có thể ngăn ngừa sự lan truyền của bệnh sida qua những giao hợp ”, các nhà nghiên cứu chứng mình rằng nơi các phụ nữ, việc sử dụng tại chỗ một dung dịch có liều lượng thấp polyphénol của chè xanh có thể “ hủy bỏ một cách hiệu quả những tính chất phát triển của nhiễm trùng.”.

ĐƠN GIẢN VÀ ÍT TỐN KÉM

Trong khi đại đa số trong số 33 triệu người có huyết thanh dương tính trên thế giới đã bị nhiễm trùng bởi HIV trong lúc giao hợp dị tính (relations hétérosexuelles) và trong lúc 96% những lây nhiễm mới đều xảy ra trong những nước nghèo, các nhà nghiên cứu cho rằng việc khám phá những tính chất ức chế của thành phần của chè xanh là “ đầy hứa hẹn ”. “ Điều đó có thể mang lại một phương pháp phòng ngừa đơn giản và ít tốn kém, đặc biệt là trong những giới nghèo khổ.” EGCG của chè xanh đã được công nhận do những tính chất chống ung thư, kháng oxy hóa, chống vi khuẩn và kháng virus.
(LE SOIR 27/5/2009) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 132 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (27/6/2009) 

9/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG BỊ LÂY TRUYỀN BỞI CÁC NHA SĨ.

HEPATITE. Một báo cáo ở Pháp chỉ rõ nguy cơ, tuy rất thấp, nhưng không phải là ít, của sự lây nhiễm bởi virus viêm gan B hay C, thậm chí của Sida, nơi các phòng khám của các nha sĩ.

Những trường hợp chữa răng bình thường phải chăng có thể là nguồn gốc của những nhiễm trùng nặng bởi virus ?Đối với một cá thể, nguy cơ mắc phải HIV, virus của viêm gan B (VHB) hay virus của viêm gan C (VHC) nơi một phòng mạch nha sĩ là rất thấp, một báo cáo của Viện theo dõi y tế (IVS : Institut de veille sanitaire), vừa được công bố, đã đánh giá như vậy. Tuy nhiên nguy cơ này không hẳn là không đáng kể ở quy mô đại chúng, nếu xét đến số lượng cao của các động tác giải phẫu răng và những khiếm khuyết trong sự khử trùng dụng cụ, được chứng thực nơi các nha sĩ hành nghề.

Ở Pháp, theo những tính toán của IVS, mỗi năm khoảng 200 trường hợp bị lây nhiễm bởi virus của viêm gan B, có thể là do sự khử trùng không được đầy đủ của các các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatifs : toàn bộ các turbines và những pièces à mains khác, truyền một chuyển động quay đến các dụng cụ, như fraises, tiếp xúc trực tiếp với các răng được điều trị), được sử dụng rộng rãi bởi các nha sĩ để điều trị bảo tồn và làm răng giả. Như thế, những khiếm khuyết vệ sinh trong lãnh vực này, trên lý thuyết, có thể gây nên những lây nhiễm bởi virus của viêm gan C (dưới 2 trường hợp mỗi năm) hay bởi HIV (dưới 1 mỗi năm).

Trên thực tế, rất ít các trường hợp được chứng minh trong tư liệu y học. Trong hầu hết các trường hợp, những virus có thể được lây truyền bởi máu này bị nhiễm phải trong những bối cảnh khác (giao hợp, nghiện ma túy, những tai nạn do tiếp xúc với máu...). Trường hợp đầu tiên được xác nhận của sự truyền virus viêm gan B từ bệnh nhân này đến bệnh nhân khác vào lúc chữa răng, đã được báo cáo ở Hoa Kỳ vào năm 2007. “ Ở Pháp một trường hợp đang trong vòng điều tra, nhưng chưa có gì được chứng minh, BS Bruno Poignard của IVS đã xác nhận như vậy. Thường khó chứng minh trách nhiệm của việc chữa răng (là những động tác rất thông thường) trong sự lan truyền của một bệnh sida hay viêm gan. Nói chung, đó là giả thuyết cuối cùng được thăm dò và đó là một chẩn đoán loại trừ.”

Cách nay vài năm, Tổng giám đốc y tế đã phân phát một hướng dẫn các khuyến nghị dành cho những nhà chuyên nghiệp, nhằm tăng cường sự phòng ngừa những nhiễm trùng do việc chữa răng. Nhưng mới đây, giới hữu trách y tế đã được báo động bởi các cuộc thanh tra trong các phòng mạch của các nha sĩ trong môi trường nhà tù. Những khuyến nghị tiệt trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR : porte-instruments rotatif) giữa mỗi bệnh nhân vẫn không hẳn luôn luôn được tôn trọng. Điều chứng nhận này cũng tương tự đối với các phòng khám tư. “ Mặc dầu những tiến bộ quan trọng đã được chứng thực trong việc tôn trọng những quy tắc vệ sinh bởi các nha sĩ trong những năm qua, nhưng nhiều cuộc điều tra cũng cho thấy rằng những khiếm khuyết có thể tồn tại về vấn đề này nơi vài nha sĩ ”, bảng tường trình của IVS đã ghi nhận như vậy.

Theo IVS, nguy cơ cá nhân mắc phải một virus do khiếm khuyết trong khử trùng các giá mang dụng cụ quay (PIR) là thấp nhất đối với HIV, 1/420 triệu, và cao nhất đối với virus của viêm gan B, 1/516.000. Xác suất là 1/67 triệu đối với viêm gan C. Các nguy cơ sẽ là 8 lần cao hơi trong môi trường nhà tù.Thật vậy, sự mang virus sida và viêm gan đúng là thường xảy ra hơn trong nhóm dân này, do những hành vi có nguy cơ như nghiện ma túy.

Tổng cộng, theo đánh giá của IVS, việc chữa răng có thể chịu trách nhiệm 200 trường hợp nhiễm virus viêm gan B mỗi năm.
(LE FIGARO 29/5/2009)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 144 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (27/09/2009) 

1/ VACCIN CHỐNG BỆNH SIDA : SAU CÙNG CÁC KẾT QUẢ DƯƠNG TÍNH !

Cuộc thử nghiệm vaccin với quy mô rộng lớn nhất được tiến hành cho đến ngày hôm nay đã cho phép làm giảm 1/3 nguy cơ nhiễm trùng bởi virus HIV. Nhưng còn nhiều điều cần phải làm.

Mặc dầu vaccin chống bệnh sida chưa có cho ngày mai, nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử của dịch bệnh mà một thử nghiệm lâm sàng cho hé thấy khả năng phòng ngừa sự lây nhiễm bởi virus HIV. Nguy cơ bị nhiễm trùng sida giảm 31% nơi những người được tiêm chủng so với những người đã nhận một placebo, hôm thứ năm 24/9, các nhà tổ chức cuộc thử nghiệm tiêm chủng đã loan báo như vậy. “ Đó là một bước tiến quan trọng, giáo sư Jean –François Delfraissy, giám đốc ANRS (Cơ quan quốc gia nghiên cứu về bệnh si da và các bệnh viêm gan virus) đã chào mừng.Tuy nhiên vẫn còn khiêm tốn và không đủ. Chúng ta chưa có một vaccin chống sida.” Được trắc nghiệm nơi 16.000 người tình nguyện ở Thái Lan có huyết thanh âm tính (séronégatif), thử nghiệm kết hợp hai vaccin khác nhau (un cocktail de deux vaccins) được chế tạo cách nay 10 năm. Vaccin đầu tiên được tiêm là Alvac, được bào chế bởi Sanofi Pasteur và vaccin thứ hai Aidsvax B/E VaxGen. Hai vaccin, nhằm vào các chủng gốc lưu hành ở Thái Lan, được tiêm cách nhau một khoảng thời gian 6 tháng, vaccin thứ hai tăng cường tác dụng của vaccin thứ nhất, theo chiến lược primovaccination, tiếp theo bởi một tiêm chủng nhắc lại (“ prime boost ”). Những người tình nguyện được khám lại mỗi 6 tháng trong vòng 3 năm sau khi tiêm chủng, đồng thời mỗi lần khám bệnh họ nhận “ những lời khuyên về phương cách phòng ngừa nhiễm trùng bởi HIV ”. Những kết quả thô sơ của thử nghiệm giai đoạn III này, được gọi là RV 144, đã được trình bày hôm qua nhân một cuộc họp báo được tổ chức bởi Sanofi-Pasteur, là hãng bào chế Alvac-HIV, một trong hai vaccin. Mặc dầu họ không ngớt đưa ra những lời tuyên bố phấn khởi, nhưng các phát ngôn viên của quân đội Hoa Kỳ và Bộ y tế Thái Lan (đã tiến hành nghiên cứu), đã không chi tiết bao nhiêu về các dữ kiện. Những dữ kiện này sẽ được phát triển vào hội nghị quốc tế về các vaccin sẽ diễn ra ở Paris từ 19 đến 22 tháng 10.

Hai thử nghiệm quy mô lớn đầu tiên, được tiến hành với các vaccin thế hệ thứ nhất, đã thất bại. Để gia tăng các cơ may thành công, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã nhờ đến chiến lược “ prime-boost ” (primovaccination rappel), nhằm tiêm một vaccin đầu tiên để khơi mào đáp ứng miễn dịch, rồi một vaccin thứ hai, tính chất khác, để khuếch đại sự sản xuất các kháng thể.Vaccin đầu tiên, Alvac-HIV, được sản xuất từ một virus gây nhiễm trùng chim hoàng yến (canari) (canarypox) bị biến đổi về mặt di truyền. Virus này không có thể sống sót trong các tế bào người nhưng cho phép đưa vào các gène mật mã cho các protéine miễn dịch của HIV. Vaccin thứ hai, AIDSVAX là một dạng tổng hợp của một protéine thuộc lớp vỏ của virus, gpl120.

Được trắc nghiệm riêng rẽ, hai vaccin này đã không mang lại một sự bảo vệ miễn dịch nào. Trong thử nghiệm Thái Lan, được bắt đầu vào năm 2003, 16.000 người tình nguyện, tuổi từ 18 đến 30 và được xem như có nguy cơ“ trung bình ” bị lây nhiễm bởi HIV, đã được chia thành hai nhóm : 8.000 người đã nhận cocktail vaccin, 8.000 người nhận các placebo. Vào thời kỳ đó, một bộ phận của cộng đồng y khoa đã đứng lên chống lại công trình nghiên cứu này, được cho là cần phải bàn cãi về mặt đạo đức. 3 năm sau khi chấm dứt các tiêm chủng, các vaccin đã xác nhận tính dung nạp tốt của chúng. Nhất là, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh, sau cùng chúng đã chứng tỏ một hiệu quả : 74 trường hợp sida đã xảy ra trong nhóm placebo, 51 trong số những người được tiêm chủng, hoặc một sự giảm 31%, có ý nghĩa về mặt thống kê. “ Những kết quả của công trình nghiên cứu , thể hiện một sự tiến bộ khoa học đáng kể, là điều chứng minh đầu tiên rằng một vaccin có thể ngăn ngừa nhiễm trùng bởi HIV trong dân chúng trưởng thành và có một tầm quan trọng lớn ”, OMS và Onusida đã tuyên bố như vậy. “ Rất là đáng phấn khởi. Những kết quả này cũng cho thay chiến lược “ prime-boost ” đáng được nghiên cứu sâu ” , BS Catherine Hankins, trưởng cố vấn khoa học của Onusida đã chỉ rõ như vậy. “ Những kết quả này là khiêm tốn, nhưng đây là lần đầu tiên người ta có một dấu hiệu dương tính đối với một vaccin ”, GS Anthony Fauci thuộc Viện quốc gia dị ứng và các bệnh nhiễm trùng (Hoa Kỳ) đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên ông nhấn mạnh rằng vẫn còn nhiều câu hỏi phải giải quyết trước khi dự kiến đưa ra thị trường.“ Người ta không biết thời gian bảo vệ do vaccin mang lại là bao nhiêu, cũng như không biết là vaccin này sẽ có hiệu quả trong những loại dân chúng khác hay không, chẳng hạn những người đồng tính luyến ái hay nghiện ma túy ”, Anthony Faucy đã ghi nhận như thế. Các chuyên gia Pháp khác lại còn thận trọng hơn. “ Phải tiết chế bớt niềm phấn khởi của chúng ta, đó chỉ là một sự giảm 31%, và chúng ta không biết tại sao những người này lại được bảo vệ ”, GS Françoise Barré-Sinoussi, Giải Nobel Y Học 2008 do đã tham gia vào việc khám phá virus HIV, đã phản ứng như vậy.

“ Tin vui đầu tiên, đó là sự thông tin về những biện pháp phòng ngừa đã rất là có hiệu quả, bởi vì đã chỉ có 125 trường hợp lây nhiệm trên 16.000 người ", giám đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu về sida (ANRS) Jean François Delfraissy đã phát biểu như vậy. 

Tuy nhiên, GS Yves Levy, phụ trách về những thử nghiệm vaccin ở ANRS nhắc lại rằng “ sau 30 ứng viên vaccin trong 20 năm, ít nhất chúng ta có được một dấu hiệu cho thấy rằng có thể làm giảm các nguy cơ ”“ Một vaccin có hiệu quả trong 30% hay 50% các trường hợp sẽ có thể đóng một vai trò quan trọng nếu vaccin này nằm trong một hệ thống phòng ngừa được tăng cường. Chưa có giải pháp độc nhất để chống lại sida ”, Michel Sidibé, giám đốc của Onusida đã đánh giá như vậy. 
(LE FIGARO 25/9/2009)
(LE MONDE 26/9/2009)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 183 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/7/2010) 

6/ TA CÓ PHẢI THỰC HIỆN MỘT XÉT NGHIỆM PHÁT HIỆN BỆNH SIDA ?

Professeur Yazdan Yazdanpanah
Service universitaire des maladies 
infectieuses et du voyageur.
Centre hospitalier de Tourcoing.


Chính sách phát hiện HIV ở Pháp và trong nhiều nước phát triển dựa trên đề nghị, bởi những người điều trị, xét nghiệm cho nhóm người có nguy cơ : những người đàn ông đồng tính luyến ái, những người sử dụng thuốc ma túy bằng đường tĩnh mạch và những người dị tính luyến ái (hétérosexuels) có nhiều bạn đường phối ngẫu. Chính sách này, được thiết lập vào cuối những năm 1980, ngày nay không còn thích ứng với dịch tễ học cũng như tiến triển của bệnh ở kỷ nguyên của các điều trị antirétroviraux.

Ngày nay, ở Pháp, số những người bị nhiễm bởi HIV nhưng không biết là mình bị nhiễm trùng, được ước tính là 40.000. Giữa ¼ đến 1/3 các bệnh nhân phát hiện căn bệnh mình vào một giai đoạn muộn. Những người dị tính luyến ái có nguy cơ hai lần nhiều hơn, và những người trên 60 tuổi có bốn lần nguy cơ cao hơn, không được phát hiện và điều trị. Một mặt, bởi vì họ tự xem là không phải diện có nguy cơ và mặt khác bởi vì nhiều thầy thuốc không xếp loại họ trong nhóm người bị tiếp xúc HIV.

Thế mà, sự điều tra phát hiện, có thể cho phép thiết đặt sớm một điều trị, sẽ làm giảm một cách đáng kể những nguy cơ bệnh tật và tử vong. Mặt khác, sự điều trị sớm có một tác dụng hữu ích đối với cộng đồng. Thật vậy, do làm giảm lượng virus trong cơ thể, các antirétroviraux làm giảm nguy cơ truyền cho những người khác. Sau cùng, việc biết được tình trạng huyết thanh (statut sérologique) của mình mang lại một sự biến đổi của những hành vi sinh dục có nguy cơ (comportememnt sexuel à risque).

Trong khi phải duy trì và tăng cường sự phát hiện nhắm đích và đều đặn những nhóm người có nguy cơ, giờ đây ta phải mở rộng công tác phát hiện bệnh. Đó là điều được khuyến nghị bởi Haute Autorité de Santé, vào tháng 10 năm 2009, đối với toàn bộ những người tuổi từ 15 đến 70. Một cách cụ thể, mỗi người sẽ được đề nghị một xét nghiệm hay yêu cầu được hưởng xét nghiệm này trong một cơ sở y tế. Ngoài ra, việc đề nghị phát hiện mở rộng (dépistage généralisé) sẽ là cơ hội để minh định rõ rằng, mỗi cá nhân, dầu thuộc cộng đồng nào, đều có khả năng bị nhiễm bởi HIV.

Tuy nhiên, xét nghiệm chỉ được thực hiện bởi những người điều trị trong bối cảnh này không đủ. Nhất là để phát hiện những người trong tình trạng bấp bênh không hay ít thường xuyên lui tới các cơ sở điều trị, hay vài nhóm “ cộng đồng ”. Phải đi đón lấy những nhóm người này ! Sự sử dụng mới đây các xét nghiệm phát hiện có kết quả nhanh, được thực hiện chỉ với một giọt máu lấy nơi đầu ngón tay, mang lại cho chúng ta một khả năng đổi mới tuyệt vời. Ngày nay, với những trắc nghiệm này, việc phát hiện bệnh có thể được thực hiện ở nơi khác với phòng xét nghiệm. 

Dầu cho chiến lược phát hiện bệnh là gì, médicalisé hay không, chúng ta hãy nhắc lại rằng công tác phát hiện này vẫn là một phương pháp tiến hành tự nguyện. Điều chủ yếu là các quyền của con người, đặc biệt là tính cách kín mật phải được tôn trọng. Chính trên những nguyên tắc này mà nền dân chủ y tế hoạt động. Hay dân chủ nói chung. 
(LE FIGARO 5/7/2010)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 184 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (26/7/2010) 

2/ SIDA : TIẾN ĐẾN SỰ THANH TOÁN VIRUS VÀO NĂM 2050 ?

Liệu pháp ba loại thuốc (trithérapie) điều trị các bệnh nhân, nhưng cũng làm giảm khả năng gây nhiễm. Từ đó nảy ra ý tưởng điều trị để phòng ngừa.

EPIDEMIE. Nếu như tất cả những người bị nhiễm bởi virus sida được phát hiện và nhận các thuốc kháng virus, có lẽ dịch bệnh có thể biến mất trong vài thập niên. Thật vậy, mặc dầu các thuốc hiện nay không cho phép tiêu hủy virus, nhưng, đối với bệnh nhân được điều trị, chúng làm giảm nhiều nguy cơ truyền virus cho một đệ tam nhân, bằng đường sinh dục hay bằng tiêm chích.

“ Phát hiện và điều trị ” (Test and treat). Từ nay, đó là triết lý hành động của các cơ quan lớn chống bệnh sida và đặc biệt là Onusida, xác định cho mình mục tiêu điều trị các bệnh nhân, đồng thời ngăn cản những lây nhiễm mới. Trong khi Hội nghị quốc tế lần thứ 18 về bệnh sida đã khai mạc hôm qua với hơn 20.000 người tham dự (các nhà nghiên cứu, các thầy thuốc, các hiệp hội), càng ngày càng có nhiều chuyên gia ủng hộ một chiến lược như thế. Ngay cả Tổ chức y tế thế giới nghĩ đến, ở chân trời năm 2050, sự triệt căn của virus VIH, chịu trách nhiệm 25 triệu trường hợp tử vong kể từ đầu đại dịch, vào năm 1892.

“ Chiến lược này dựa trên sự kiện là, khi ta làm giảm trọng tải virus (charge virale) của các bệnh nhân bằng điều trị, thì nguy cơ truyền bệnh có vẻ thấp hơn, GS Jean-François Delfraissy (giám đốc của Cơ quan quốc gia nghiên cứu về bệnh sida, Paris) đã giải thích như vậy. “ Người ta cho rằng việc đảm bảo một sự tiếp cận điều trị cho tất cả những ai cần đến, có thể cho phép làm giảm 1/3 những trường hợp lây nhiễm mới mỗi năm ”, bản báo báo mới nhất của Onusida, được công bố cách nay vài ngày, đã xác nhận như vậy.

Cho mãi đến nay, đó chủ yếu là những mô hình, liên kết với những công trình nghiên cứu quán sát, cho phép dự kiến, nhờ một phương pháp như thế, một khả năng thanh toán virus sida. Hôm qua, nhân Hội nghị quốc tế thế giới về sida, tạp chí Anh The Lancet đã công bố những kết quả của công trình nghiên cứu Canada ít nhất cũng phù hợp phần nào những giả thuyết này. Công trình chứng minh rằng chỉ cần điều trị những người huyết thanh dương tính (séropositifs) cũng cho phép chia đôi số những trường hợp mới nhiễm trùng bởi VIH.

NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHÁC ĐANG ĐƯỢC TIẾN HÀNH.

Nhóm nghiên cứu của GS Julio Montaner (giám đốc của Trung tâm chống bệnh sida ở Vancouver và chủ tịch của International Aids Society, tổ chức hội nghị quốc tế ở Vienne) đã tập trung vào tỉnh Colombie-Britanique (Canada), nơi đây, từ năm 1996, tất các các bệnh nhân bị nhiễm bởi virus sida đều được hưởng một sự tiếp cận điều trị miễn phí. Nhóm nghiên cứu đã có thể quan sát thấy rằng giữa năm 1996 (lúc bắt đầu liệu pháp 3 thứ thuốc, trithérapie) và 2009, số những người được điều trị trong vùng này đã chuyển từ 837 lên 5.413. Trong cùng thời gian, suốt trong 13 năm này, số những trường hợp chẩn đoán huyết thanh dương tính mới mỗi năm đã chuyển từ 702 xuống còn 338, hoặc một sự giảm 52%. “ Cứ thêm 100 người được điều trị bởi liệu pháp 3 thứ thuốc, số những trường hợp mới hạ 3% ”, các tác giả đã tóm tắt như vậy.

Ngược lại, các tỷ lệ các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục đã gia tăng trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu, điều này chứng tỏ rằng những kết quả của nó không phải là do một sự giảm các hành vi sinh dục có nguy cơ (conduite sexuelle à risque), mà đúng là do hiệu quả phòng ngừa của các điều trị. Sự giảm số các nhiễm trùng mới đã có thể nhận thấy đối với các cách lây nhiễm và đặc biệt là đối với những người tiêu thụ thuốc ma túy bằng đường tiêm chích. “ Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi xác nhận lợi ích thứ hai của các điều trị, đó là làm giảm sự lan truyền của VIH. Những kết quả này khiến phải xem xét lại sự lưỡng phân được xác lập giữa sự phòng ngừa và sự điều trị của VIH ”, các tác giả đã kết luận như thế. Nhiều công trình nghiên cứu khác đang được tiến hành để đánh giá tốt hơn ảnh hưởng của điều trị lên sự phòng ngừa. “ Còn có nhiều nghi vấn, GS Delfraissy đã xác nhận như vậy. Trước hết phải cố đạt được sự chấp thuận để được phát hiện bệnh và sự tuân thủ các điều trị. Cũng cần phải theo dõi những đề kháng của virus đối với các loại thuốc. Sau cùng, vấn đề phí tổn của một điều trị đối với tất cả không thể không được nói đến. Hiện nay, trên 33 triệu người bị nhiễm trùng trên thế giới, chỉ 12 triệu được phát hiện và 5 triệu được điều trị. ”

Trong lúc chờ đợi một sự triệt căn khả dĩ của virus VIH trong 40 năm đến, những chiến dịch phòng ngừa bệnh sida bằng bao dương vật được tiếp tục khắp nơi trên thế giới. Các chuyên viên đang nôn nóng chờ đợi những kết quả của một công trình nghiên cứu, được trình bày ngày mai, nhằm đánh giá hiệu quả của một gel âm đạo chứa một chất kháng virus, để phòng ngừa sự lây nhiễm đối với các phụ nữ.
(LE FIGARO 19/7/2010)

3/ THUỐC CHỦNG CHỐNG BỆNH SIDA (VACCIN ANTI-VIH) : SỰ LẠC QUAN CỦA GIÁM ĐỐC VIỆN CÁC BỆNH NHIỄM TRÙNG HOA KỲ.

Sau 20 năm thất bại, công cuộc tìm kiếm một vaccin chống bệnh sida đã trải qua những bước tiến quan trọng, làm tin tưởng hơn nhiều khả năng thắng bệnh nhiễm trùng, Anthony Fauci, giám đốc Viện các bệnh nhiễm trùng Hoa Kỳ, đã đánh giá như vậy.

“ Tôi nghĩ rằng, chúng ta có thể nói một cách thành thật rằng, những tiến bộ đáng kể đã được thực hiện trong sự phát triển của một vaccin ”, Anthony Fauci đã tuyên bố như vậy, nêu lên sự khám phá mới đây của hai kháng thế mới chống lại virus sida (anticorps anti-VIH), bởi những nhà nghiên cứu của cơ quan ông, Viện quốc gia Hoa Kỳ về các dị ứng và những bệnh nhiễm trùng (Niaid), đang ở hàng đầu trong công cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida. “ Mãi cho đến gần đây, không những các cố gắng để sản xuất một vaccin đã không thu được kết quả, mà chúng ta còn không có chỉ dấu ít ỏi nào cho thấy rằng chúng ta đã đi trên con đường đúng đắn ” ông nói tiếp như vậy. Chúng ta tiến bước hầu như một người mù, với hy vọng gặp được cơ may.” 

Tất cả đã bắt đầu thay đổi với những kết quả của một thử nghiệm lâm sàng của một vaccin thí nghiệm ở Thái Lan, vào năm 2009, trên 16.000 người. Những kết quả đã cho thấy một hiệu quả dương tính rất khiêm tốn để ngăn ngừa nhiễm trùng bởi VIH (virus de l’immunodéficience). “ Mặc đầu hiệu quả không đầy đủ, vaccin này đã đánh dấu một bước tiến về quan niệm (une avancée conceptuelle), đã cho chúng ta thấy rằng có thể sản xuất một vaccin có khả năng ức chế VIH, BS Fauci nói thêm như vậy. Tất cả sự khó khăn để sản xuất một vaccin là ở chỗ virus này biến dị một cách nhanh chóng ”.

Tuần vừa qua, các nhà nghiên cứu của Niaid đã loan báo trong tạp chí Science cua Hoa Kỳ là đã thành công nhận diện hai kháng thể (VRCQ1,VRCO2) nơi một người bị nhiễm trùng. Những kháng thể này trong phòng thí nghiệm cũng phong bế hơn 90% những giống gốc VIH được biết trên thế giới. “ Khám phá này đã cho phép chúng tôi phân lập một bộ phận của VIH, mà chúng tôi có thể sử dụng như vaccin, bởi vì chúng tôi biết rằng những kháng thể này luôn luôn tấn công vào đó và phong bế virus ”, ông đã xác nhận như vậy. Mục tiêu sắp đến là thử tiêm nơi người, một trích chất của bộ phận này của virus dưới dạng vaccin, để gây nên một đáp ứng miễn dịch bảo vệ chống lại nhiễm trùng. Tất cả những diễn biến này chỉ mới xảy ra rất gần đây. Vậy thì, mặc dầu không có thể biết khi nào chúng ta sẽ có một vaccin, nhưng chúng ta tin tưởng hơn nhiều so với chỉ cách nay vài năm, khi đó không có gì chỉ cho thấy rằng việc khám phá một vaccin là có thể thực hiện được.”

Tìm ra những kháng thể, có khả năng làm vô hiệu các giống gốc của VIH hiện diện khắp nơi trên thế giới, cho đến nay, đã tỏ ra rất là gay go, bởi vì virus thay đổi protéine bề mặt một cách thường xuyên để thoát khỏi sự phát hiện bởi hệ miễn dịch. Những khám phá như thế tạo nên một điểm khởi đầu lý thú nhưng dầu sao vào giai đoạn này, điều đó dường như không đủ để hiệu chính một vaccin phòng ngừa, GS Jean-François Delfraissy (giám đốc của Cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida, Paris) đã phát biểu như vậy.
(LE FIGARO 19/7/2010)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 186 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (9/8/2010) 

6/ VIRUS CỦA BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ CÓ LIỆU PHÁP GENE.

Các thuốc kháng siêu vi trùng (antiviraux) chống lại virus của bệnh sida phải chăng một ngày nào đó sẽ được thay thế bởi một liệu pháp gène (thérapie génique ? Đó là hy vọng được dấy lên bởi một công trình nghiên cứu của Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu đã lấy các tế bào máu trên 4 người bị nhiễm bởi VIH và bị một ung thư máu, hay lymphome, liên kết với bệnh sida. Sau đó họ đã biến đổi một phần nhỏ của những tế bào này bằng cách đưa vào đó những gène ngăn cản sự phát triển của VIH. Sau cùng, các nhà nghiên cứu đã đưa các tế bào này vào lại trong máu của các bệnh nhân. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng, các triệu chứng của tất cả các bệnh nhân đã được cải thiện và rằng, nơi hai trong số các bệnh nhân này, các tế bào chữa lành bệnh (cellulues guérisseuses) đã tăng sinh. Ngược lại, không có sự bảo đảm về tính hiệu quả của các gène“ thuốc ” này về lâu về dài.
(SCIENCE ET VIE 8/2010)

7/ NGUỒN GỐC CỦA BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT.

Sống trong môi trường đô thị, di dân, tiêu thụ cannabis...Những tình huống này có phải là những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tâm thần phân liệt, căn bệnh tâm thần gây bệnh cho 1% dân số thế giới ? Lần đầu tiên, một công trình nghiên cứu, được phát động bởi Fondation FondaMental (mạng lưới hợp tác khoa học về sức khỏe tâm thần), sẽ mang lại câu trả lời ở Pháp. Bệnh tâm thần phân liệt, xuất hiện giữa 15 và 20 tuổi, gây nên những ảo giác (hallucination), thường nhất là thính giác, và những ý tưởng mê sảng (idées délirantes), dẫn đến một sự cắt đứt tiếp xúc xã hội (rupture du contact social) và một một sự giảm khả năng xúc cảm (une baisse de l’affect). Theo các nghiên cứu dịch tễ học, “ có một yếu tố di truyền làm dễ (un facteur génétique de prédisposition), mà người ta đã chưa có thể nhận diện được các biến dị ”, BS Andrei Szoke, thuộc bệnh viện Albert-Chenevier (Créteil) và là người đồng phụ trách công trình nghiên cứu, đã giải thích như vậy. Một tính chất dễ bị thương tổn di truyền (vulnérabilité génétique) được biểu hiện trong vài điều kiện môi trường. “ Một đứa trẻ đã lớn lên trong thành phố, sẽ có một nguy cơ hai lần cao hơn phát triển một bệnh tâm thần phân liệt, so với một trẻ của môi trường nông thôn ”, vị thầy thuốc nói tiếp như vậy. Cũng vậy, các dân di tản cũng sẽ bị ảnh hưởng hơn “ có lẽ là do stress gây nên bởi sự đối xử phân biệt ”. Sau cùng, sự tiêu thụ cannabis sẽ nhân lên gấp 2,5 lần nguy cơ xuất hiện của hợp chứng.

Có bao nhiêu lý thuyết, có bấy nhiêu công trình muốn kiểm chứng.“ Chúng tôi sẽ so sánh 150 trường hợp mới trong các thành phố của Val-de-Marne và trong một vùng nông thôn của Puy-de-Dome, với 100 trong số các anh hay chị của họ, ở trong cùng một môi trường và một phần của các gène của họ và với 150 người chứng.Tất cả sẽ trả lời những bảng câu hỏi, và một xét nghiệm máu sẽ xác định những yếu tố di truyền hay nhiễm trùng.” Cũng cuộc điều tra sẽ được tiến hành ở Tây ban Nha, ở Ý, Anh và ở Hoà lan, tất cả được tài trợ bởi Liên Hiệp Châu Âu. Mục tiêu cuối cùng ? “ Hiểu biết tốt hơn nguồn gốc của những bệnh lý này, thiết đặt những biện pháp phòng ngừa và báo động các nhóm dân và những vùng có nguy cơ.” Cac kết quả sẽ có trong 3 năm nữa.
(SCIENCES ET AVENIR 8/2010)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 206 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (27/12/2010) 

1/ SIDA : CÓ THỂ THẮNG ĐƯỢC DỊCH BỆNH NÀY TỪ NAY ĐẾN 20 NĂM NỮA.

Chúng ta đang ở vào năm 2030.Vẫn không có vaccin, nhưng dịch bệnh sida được trừ diệt. Dưới 40 triệu người, trên một dân số thế giới 7 hay 8 tỷ người, sống với VIH, điều này hơi nhiều hơn năm 2010. Và người ta hầu như không còn đếm thêm một nhiễm trùng mới nào nữa : nhiễm trùng (bệnh sida) này đã trở thành một bệnh mãn tính và dưới vài chục ngàn người chết mỗi năm. Không còn nghi ngờ gì nữa, trận dịch gây chết người nhất trên thế giới sau cùng có vẻ đã bị đánh bại ! Bằng phép diệu kỳ nào ? Một sự thay đổi triệt căn chiến lược phòng ngừa, trong vòng 20 năm, đã hoàn toàn làm thay đổi dữ kiện..

Vì chúng ta chưa phải ở vào năm 2030 nên kịch bản này vẫn là giả tưởng. Nhưng có lẽ không phải là phi hiện thực ! Vì một lý do đúng đắn : thập niên 2000 chấm dứt và chưa bao giờ khả năng một coup d’arrêt đối với dịch bệnh lại gần kề đến thế. Bởi vì, từ ba năm qua tất cả đã thay đổi.

Ta đang chứng kiến một thay đổi paradigme thật sự. Sự thay đổi này có thể được tóm tắt bằng 4 chữ : TASP (Treatment as prevention), nghĩa là điều trị để phòng ngừa. Một cách rõ nét, điều trị được theo đuổi bởi những người bị nhiễm trùng có một tác dụng phòng ngừa chống lại sự lan truyền của VIH…và điều đó mở cửa cho một sự kiểm soát dịch bệnh. Trong khi đó, mãi cho đến nay, ta vẫn nghĩ rằng chỉ có sự xuất hiện của một vaccin mới có thể dứt điểm căn bệnh và rằng chiến dịch duy nhất chống lại sự bành trướng của dịch bệnh dựa trên túi dương vật (préservatif). Vậy với TASP, đó là một bài diễn văn được nghe rất mới. Đến độ nhân Hội nghị quốc tế tháng 7vừa qua về bệnh sida, quy tụ khoảng 20.000 chuyên gia ở Vienne, người ta đã chỉ nói về điều đó ! Và nhất là, các chuyên gia dịch tễ học và các thầy thuốc hôm nay không e ngại khi xác nhận rằng : từ nay họ có những phương tiện kỹ thuật để dứt điểm virus bằng cách phối hợp những kỹ thuật phòng ngừa cổ điển với phương pháp mới của TASP. Theo họ, chỉ còn việc thực hiện chúng, với điều kiện là phải vượt qua vài chướng ngại vật, đặc biệt là tài chánh.

Cũng như điều thường xảy ra trong khoa học, các tư tưởng mới phải đi qua một chặn đường trong một thời gian nào đó trước khi được công nhận và ý tưởng “ điều trị để phòng ngừa ” (traitement comme prévention) cũng không ra ngoài quy luật đó. Bởi vì, chính vào đầu năm 2008 mà quan niệm này đã xuất hiện, qua một bài báo được công bố trong một tập sách y học khó hiểu, Le Bulletin des médecins suisses, được công bố bởi một nhóm nhỏ các chuyên gia về VIH, được kính nễ, nhưng không được công chúng biết đến. Thế mà, điều mà bài báo này đưa ra lại hoàn toàn chưa từng có. “ Những người huyết thanh dương tính không bị một bệnh nhiễm trùng bằng đường sinh dục nào khác, nếu theo một điều trị antirétroviral hiệu quả, sẽ không truyền VIH bằng đường sinhdục ”. 3 năm sau, sau khi đã gây nên một cuộc tranh luận kéo dài, cái ngòi nhỏ được đốt cháy này không ngừng khích động niềm hy vọng : ngày nay, tất cả các chuyên gia trên thế giới đều nhất trí về sự khẩn trương xem xét lại những chiến lược chống lại bệnh sida dưới ánh sáng của TASP.

Phải nói rằng các con số thật hùng hồn. “ Nguy cơ lây truyền tùy thuộc vào lượng virus (charge virale) lưu hành trong cơ thể. Các ARV (antirétroviraux), bởi vì chúng kiểm soát sự tăng sinh (réplication) của virus đến độ làm cho charge virale không còn có thể phát hiện được, sẽ làm giảm một cách đáng kể nguy cơ lây truyền. Trong các kết quả của một công trình nghiên cứu mới đây, sự điều trị gây nên một sự thu giảm 92% nguy cơ lây truyền trong các cặp huyết thanh khác nhau (couple sérodifférent). Một mức độ hiệu quả tương tự với mức độ hiệu quả khi dùng bao dương vật (préservatif) ! ”, Willy Rozenbaum, thầy thuốc chuyên bệnh truyền nhiễm thuộc bệnh viện Saint-Louis (Paris) và chủ tịch của Conseil national du sida đã mô tả như vậy. Hội đồng này, vào tháng tư năm 2009, đã công bố một ý kiến thuận lợi đối với việc sử dụng những điều trị như là một công cụ “doi mới ”. Như thế chiến lược mới nhằm điều trị một số lượng rất lớn những người bị nhiễm trùng để làm giảm lượng virus lưu hành trong cộng đồng, cũng được gọi là “charge virale communitaire” và do đó hạn chế, thậm chí dập tắt hoàn toàn những lây nhiễm mới. Bernard Hirschel, thành viên của nhóm Thụy Sĩ nổi tiếng này, nói thêm : “ Vào năm 1996, việc đưa những thuốc antirétroviraux vào điều trị trùng hợp với một sự hạ những lây nhiễm mới. Nếu không có những điều trị này, sẽ có 50 đến 100% các lây nhiễm nhiều hơn trên thế giới vào năm 2000 ”. Theo ông ta, sự bành trướng của điều trị bởi những thuốc antirétroviraux và tính hiệu quả gia tăng của nó như thế đã làm giảm số những người có khả năng gây lây nhiễm. Và điều này, mặc dầu khoảng chỉ 5 triệu người bị nhiễm trùng trên 33 triệu người trên thế giới thật sự được hưởng điều trị bởi các thuốc antirétroviraux.

SỰ CẦN THIẾT PHÁT HIỆN NHANH VÀ TỐT.

Và đúng như vậy : để thật sự có hiệu quả, chiến lược TASP phải liên hệ đến tối đa những người bị nhiễm trùng. Điều này hàm ý phải phát hiện họ ! Điều đó xảy ra đúng lúc : những công cụ phát hiện mới hiện có sẵn. Đặc biệt, những trắc nghiệm nhanh cho những kết quả trong không đầy 30 phút. Một trong những xét nghiệm mới nhất, được trắc nghiệm từ một năm nay trong nhiều khoa cấp cứu, cho phép ngay cả thu được một kết quả đáng tin cậy trong một phút ! Tuy nhiên một bémol nhỏ, những xét nghiệm nhanh này chỉ phát hiện những kháng thể xuất hiện trung bình 3 tuần sau khi bị lây nhiễm, chứ không phải những kháng nguyên p24, chúng mới thể hiện sự hiện diện của virus ngay vào tuần lễ thứ hai. Thế mà, chính trong thời kỳ nhiễm trùng sơ cấp (primo-infection) này, ngay tuần lễ thứ hai và cho đến tuần lễ thứ tám, trong đó VIH, lợi dụng sự vắng mặt của đáp ứng miễn dịch, đã tăng sinh một cách dễ dàng nhất và do đó nguy cơ lây truyền cao nhất. Trong khi người ta nói chung còn không hay biết tình trạng huyết thanh của mình... “ Người ta nghĩ rằng trung bình, chỉ riêng thời kỳ ngắn ngủi này chịu trách nhiệm 30% các lây nhiễm ”, Geoffrey Garnett, thuộc Imperial College (Luân Đôn) đã đánh giá như vậy. Một con số, theo nhiều công trình nghiên cứu, sẽ lên hơn 50% trong những nhóm người có dịch bệnh rất năng động : nơi những người đồng tính luyến ái hay trong vài nước Châu Phi dưới Sahara, nơi đây tỷ lệ những người trưởng thành bị nhiễm trùng (tỷ lệ lưu hành) xoay quanh 20 đến 25%. “ Các phòng thí nghiệm do đó làm việc cật lực để chế tạo những xét nghiệm nhanh hiệu năng hơn trong việc phát hiện các primo-infection, François Simon, giám đốc của phòng xét nghiệm virus học thuộc bệnh viện Saint-Louis đã giải thích như vậy. Và những xét nghiệm này sẽ được thương mãi hóa trong những năm rất gần đây ”.

Cuối cùng, việc xuất hiện những phương pháp phát hiện mới này hẳn cho phép phổ cập chiến lược “ trắc nghiệm và điều trị ” (test and treat). Đó là một sự phát hiện được đề nghị một cách hệ thống và những điều trị được cấp càng sớm chừng nào tốt chừng đó cho một số tối đa những người bị nhiễm trùng. Theo Tổ chức y tế thế giới, chiến lược “ phát hiện và điều trị ” này làm giảm rất tích cực số những lây nhiễm mới, thậm chí làm chúng biến mất hoàn toàn.

ĐIỀU TRỊ NGAY CẢ NHỮNG NGƯỜI KHÔNG BỊ NHIỄM TRÙNG !

Vâng, nhưng việc phổ cập các điều trị này liệu thật sự có thể dự kiến khi chúng có tiếng là nặng nề về mặt các tác dụng phụ (bệnh thần kinh, các rối loạn phân bố mỡ) ? Đừng quên là “ từ 3 hay 4 năm nay, những điều trị antirétroviraux đã trở nên đơn giản hơn, hiệu quả hơn và, nhất là, chúng được dung nạp tốt hơn nhiều, chuyên gia virus học Christine Rouziuox đã nhấn mạnh như vậy. Vậy không những có lợi ích tập thể mà còn cả cá nhân khi được điều trị rất sớm ”. Trong những nước phát triển, những điều trị mới này đã có sẵn, đó là liệu pháp đầu tiên ba thứ thuốc trong một viên thuốc mỗi ngày, Atripla, được thương mãi hóa từ năm 2009 ở Pháp. Còn hơn thế, chất lượng của các điều trị được cải thiện đến độ một ý nghĩ cách mạng đang nảy mầm nơi các chuyên gia về bệnh sida : không những chỉ cho những thuốc điều trị này cho những người bị lây nhiễm, mà cũng cho chúng nơi những người không bị nhiễm trùng nhưng có nguy cơ bị lây nhiễm nhằm tránh cho họ khỏi bị nhiễm trùng ! Ở đây, các antirétroviraux trở nên những “ boucliers anti-contamination ” (khiên chống lây nhiễm). Chỉ cần uống chúng dưới dạng viên hay sử dụng chúng qua một gel đặt tại chỗ.

Gel này ngày nay là phương pháp tiên tiến nhất. Với sự loan báo tác dụng bảo vệ một phần bằng một gel được đặt trong âm đạo, vào tháng 7 vừa qua, sau hơn 15 năm nghiên cứu không có kết quả. Sản phẩm chứa một antirétroviral, ténofovir, và phải được đặt, tối đa 12 giờ trước đó, rồi 12 giờ sau khi giao hợp. “ Tỷ lệ bảo vệ trung bình là 39%, nhưng tỷ lệ này lên đến 54% khi gel được sử dụng : hơn 8 trên 10 ”, những tác giả chính của công trình nghiên cứu, Quarrhaisha và Salim Abdool, thuộc Centre pour le programme de recherche sida ở Nam Phi, đã giải thích như vậy. Tuy nhiên, trước khi được đưa ra cho dân chúng sử dụng, gel sẽ phải được cải thiện, nhất là bằng cách làm gia tăng nồng độ antirétroviral được sử dụng (ở đây 1%) hay bằng cách sử dụng một coctail các thứ thuốc. Một sự cải thiện khả đĩ khác nhằm sử dụng các “ vòng khuếch tán ” (anneaux diffusants), mà sự thương mãi hóa được dự kiến vào năm 2015. Những vòng này sử dụng một antirétroviral thí nghiệm, dapivitrine, và ưu điểm của chúng là một khi được đặt trong một tháng, chúng sẽ tránh việc quên thuốc.

Về viên thuốc uống mỗi ngày để tránh nhiễm trùng, hay chiến lược “Prep” (prophylaxie pré-exposition : dự phòng trước khi bị tiếp xúc với virus bệnh Sida), những kết quả đầu tiên hiện có là những kết quả của thử nghiệm quốc tế iPrex. Trong thực tiễn ? Những người có nguy cơ cao tiếp xúc với VIH, nhưng không bị lây nhiễm, uống mỗi ngày một viên thuốc Truvada, phối hợp ténofovir và một thuốc antirétroviral thông thường khác, emtricitabine. Thử nghiệm được thực hiện trên 3000 người đồng tính luyến ái, ở Brésil, ở Equateur, ở Pérou, ở Nam Phi, ở Thái lan và ở Hoa Kỳ. Những phân tích đầu tiên là đáng phấn khởi, với một khả năng bảo vệ gần 40 đến 60%. Vấn đề còn lại là phải làm rơi hàng rào ngăn cản về mặt tâm lý trước khi có thể thấy những người huyết thanh âm tính chấp nhận dùng các antirétroviral như aspirine hay thuốc ngừa thai.

Bằng một cách nào đó hàng rào tâm lý này có thể vượt qua nhờ ý tưởng một Prep orale “ đoạn hồi ” (prophylaxie intermittente : uống thuốc phòng bệnh không phải mỗi ngày mà chỉ vào lúc cần đến), được phát triển bởi vài nhà nghiên cứu. Hoặc uống một viên thuốc vào lúc các giao hợp, ngay trước và ngay sau đó. Jean-Michel Molina, trưởng khoa các bệnh truyền nhiễm của bệnh viện Saint-Louis, Paris, đang chuẩn bị một thử nghiệm sẽ bao gồm nhiều trăm người đồng tính luyến ái nam người Pháp và người Québec. “ Prep đoạn hồi tương ứng tốt hơn với các nhu cầu của người ta, nó có thể làm dễ sự tuân thủ điều trị, được dung nạp còn tốt hơn và có một phí tổn thấp. Thử nghiệm sẽ được bắt đầu chẳng bao lâu nữa. ”

“ MỘT KỶ NGUYÊN MỚI TRONG ĐẤU TRANH CHỒNG BỆNH SIDA ”

Tất cả những chiến lược này phải chăng một ngày nào đó sẽ được áp dụng khắp nơi trên thế giới ? Vâng, “ có thể bảo đảm một sự tiếp cận điều trị bệnh sida cho toàn thể trong các nước có lợi tức thấp hay trung gian ”, theo báo cáo hàng năm mới đây của Tổ chức y tế thế giới, của Onusida và của Unicef, được công bố ngày 28 tháng 9 vừa qua. 8 nước (Botswana, Cambodge, Croatie, Cuba, Guyanan, Oman, Roumanie và Rwanda), đã đạt được sự tiếp cận điều trị cho toàn thể dân chúng, trong khi 21 nước khác tiến gần đến khả năng này, với một tỷ lệ bảo vệ đi từ 50% đến 80%. Sự gia tăng mạnh nhất được ghi nhận đối với Châu Phi dưới Sahara, với gần 1 triệu bệnh nhân bổ sung được điều trị trong một năm, hoặc một sự gia tăng 1/3. Ngoài ra, một trong những cách lan truyền của VIH hầu như được loại bỏ : sự truyền virus VIH từ mẹ sang con, nhờ điều trị người mẹ. Trong những nước mà sự phòng ngừa này đã được thực thi, tỷ lệ trẻ em huyết thanh dương tính được làm giảm xuống chỉ còn 1%.

Đối với chủ tịch của hiệp hội Aides, Bruno Spire, “ ta có tất cả các phương tiện để làm ngừng dịch bệnh. Cách nay 10 năm, không ai nghĩ được rằng việc cho phép tiếp cận với điều trị ở các nước Phương Nam là có thể dự kiến được. Thế mà từ nay, hon 5 triệu người nhận được điều trị antirétroviral này. ” Đối với Michell Warren, giám đốc của Liên minh thế giới phòng ngừa VIH, chúng ta “ đang dứt khoát ở trong một kỷ nguyên mới chống lại bệnh sida ”. Dịch bệnh sẽ chấm dứt trong 20 năm nữa ? Tất cả chỉ còn là một vấn đề ý chí chính trị và tài chánh. Điều này không phải là không có nghĩa gì.
(SCIENCE ET VIE 12/2010)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 209 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (17/1/2011) 

8/ SIDA-LAO : ĐƯƠNG ĐẦU VỚI SỰ NHIỄM TRÙNG PHỐI HỢP (CO-INFECTION).

Gần 15% các bệnh nhân bị sida cũng bị nhiễm bởi bệnh lao. Theo OMS, con số này ngay cả lên đến 69% ở Nam Phi. Việc khó khăn trong chẩn đoán của hai bệnh nhiễm trùng liên kết này đòi hỏi một sự xử trí toàn bộ. Để đạt được điều đó, những bảng câu hỏi lâm sàng được tiêu chuẩn hóa cải thiện công tác phát hiện và những xét nghiệm chẩn đoán mới bổ sung bilan siêu vi trùng học và miễn dịch học, như các xét nghiệm nước tiểu được gọi là LAM (lipoarabinomannan). Những điều trị kháng lao và các điều trị antirétroviral rất hoạt tính (HAART) có hiệu quả nhưng khó phối hợp vì lẽ có khả năng tương tác giữa các loại thuốc. Vẫn còn khó biết được lúc tối ưu để đưa thuốc vào nhằm làm giảm nguy cơ gây các biến chứng, được gọi là IRIS syndrome (hội chứng viêm tái tạo miễn dịch : syndrome inflammatoire de reconstitution immunitaire).Về việc dự phòng chống bệnh lao trong trường hợp sida, một trong những phối hợp đầy hứa hẹn nhất là sự phối hợp isoniazide với các antirétroviraux.
(SCIENCES ET AVENIR 1/2011)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 219 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (28/3/2011) 

8/ SIDA : MỘT VACCIN ĐẦY HỨA HẸN NHẰM VÀO CÁC NIÊM MẠC

Morgane Bomsel, giám đốc nghiên cứu của CNRS, bình luận những kết quả đáng phấn khởi của phương pháp mới này nơi phụ nữ.

Hỏi : Những bất tiện của liệu pháp ba loại thuốc (trithérapie), tác dụng phong bế sự tăng sinh của HIV, là gì ?
Morgane Bomsel : Trước hết đó là sự gò bó phải dùng thuốc mỗi ngày mà điều trị đòi hỏi. Những người huyết thanh dương tính biết rằng trong trường hợp ngừng thuốc, bệnh, tạm thời bị dập tắt, sẽ xuất hiện trở lại. Bất tiện khác : sự xuất hiện những tác dụng phụ như một sự xê dịch của các khối mỡ (đặc biệt là ở mặt), vài vấn đề về gan… Cần phải nhắc lại rằng hiện nay ở Pháp khoảng 150.000 người bị nhiễm bởi virus sida.

Hỏi : Do đâu cần phải hiệu chính một vaccin phòng ngừa. Cho mãi đến nay những thử nghiệm là gì ?
Morgane Bomsel : Để hiểu cách tác dụng của những lần thử nghiệm trước, cần nhắc lại cấu trúc của virus HIV. Virus được bao quanh bởi một màng bảo vệ bao gồm một protéine, yếu tố duy nhất có thể tiếp cận được ở bề mặt của virus. Đó là chìa khóa cho phép virus đi vào trong một tế bào lành mạnh. Do đó chính protéine này mà ta tìm cách nhắm vào bằng một vaccin. Protéine này được cấu tạo bởi hai đơn vị. Một được gọi là “ G 120 ”, rất hòa tan, dễ bị tác động nhất. Nhưng GP 120 biến dị thường trực. Điều này giải thích, có lẽ một phần, những thất bại của các vaccin trong cố gắng vô hiệu hóa nó. Đơn vị kia, được gọi là “ GP 41 ”, có ưu điểm là không bị biên hóa một cách liên tục.

Hỏi : Tính độc đáo của vaccin mới này là gì ?
Morgane Bomsel : Vì virus gây bệnh sida là một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (hơn 90% các trường hợp), nên những tế bào đầu tiên mà HIV gặp đều nằm ở niêm mạc sinh dục. Chúng tôi đã tìm cách phong bế virus ngay tức khắc ở lối vào này, trước khi các ổ chứa (réservoir) được tạo thành.

Hỏi : Bà có thể giải thích cho chúng tôi những ổ chứa (réservoir) này là gì ?
Morgane Bomsel : Khi virus được phát hiện trong máu, thì khi đó các réservoir tế bào đã được tạo thành, trong đó các virus (không thể phát hiện được trong các xét nghiệm) sẽ trú ẩn, nhưng vào bất cứ lúc nào đều có thể được phóng thích để tiếp tục gây nhiễm.

Hỏi : Cách tác dụng của phương pháp mới nhất này là gì ?
Morgane Bomsel : Trong khi các vaccin trước đây tìm cách tạo một đáp ứng miễn dịch trong máu, như thế tác dụng quá muộn, vaccin của chúng tôi gây nên một phản ứng phòng vệ đặc hiệu tại chỗ, ở niêm mạc, nhờ sự kết hợp của các tiêm chủng qua mũi và qua cơ. Ngoài ra ta không còn nhắm vào đơn vị GP 120 của protéine nữa, nhưng vào đơn vị kia, GP 41, cũng tham gia vào quá trình nhiễm trùng và có ưu điểm to lớn là không biến dị.

Hỏi : Những công trình nghiên cứu nào đã được thực hiện ?
Morgane Bomsel : Những công trình nghiên cứu đầu tiên đã được thực hiện bởi nhóm của chúng tôi thuộc Viện Cochin (cùng với công ty Mymetics) nơi những động vật linh trưởng có hệ miễn dịch tương cận nhất với người. Trước hết chúng tôi đã quyết định tiêm chủng những con cái bởi vì chúng dễ bị thương tổn hơn, không thể tự bảo vệ một cách dễ dàng. 5 con khỉ cái đã được tiêm chủng và 6 con khác đã nhận một placebo. Sau đó chúng được gây nhiễm bằng những mũi tiêm vào âm đạo. 6 tháng sau, chúng tôi đã chứng thực rằng những con khỉ cái được tiêm chủng đã được bảo vệ, trong khi 6 con khỉ kia đã trở nên huyết thanh dương tính.

Hỏi : Sau những kết quả đáng phấn khởi này, khi nào ta đã bắt đầu những thử nghiệm trên người ?
Morgane Bomsel : Những thử nghiệm đầu tiên này đã được khởi sự năm 2010 ở Bỉ nơi 23 bệnh nhân. Vào giai đoạn lâm sàng đầu tiên này, chính độc tính của vaccin, lúc sử dụng cùng protocole, trước hết đã được khảo sát, cũng như khả năng của cơ thể con người đáp ứng tại chỗ với vaccin mới này (bằng cách “ chế tạo ” nhưng vũ khí đặc hiệu, những kháng thể có khả năng chống lại virus). Chúng tôi sẽ có các kết quả vào tháng tới. Nếu các kết quả này, như chúng tôi đã dự kiến, tỏ ra thỏa mãn, phải bắt đầu một công trình nghiên cứu mới trên một tập hợp người tham dự lớn hơn đã có một nguy cơ (protocole cổ điển của tất cả các thử nghiệm vaccin)
(PARIS MATCH 17/3-23/3/2011)

9/ VACCIN CHỐNG HIV : NHỮNG CHƯỚNG NGẠI NHƯNG MỘT HY VỌNG THẬT SỰ

Professeur Yves Levy
Chef du service d’immunologie clinique
Hôpital Henri-Mondor, Créteil
Professeur d’immunologie clinique
Université Paris-Est Créteil
.

Từ khi khám phá ra virus HIV, 60 triệu người đã bị nhiễm bởi virus và sida đã gây tử vong cho hơn 25 triệu người trên thế giới. Dịch bệnh tiến triển với nhịp độ 7000 lây nhiễm mỗi ngày và vẫn gây quan ngại ở châu Phi, châu Á và Đông Âu. Những hậu quả của nó trên bình diện con người, kinh tế và xã hội, kết hợp với những hạn chế trong sự tiếp cận với điều trị ở các nước phương nam, làm cho công tác nghiên cứu một vaccin phòng ngừa trở thành ưu tiên. Chỉ cần một vaccin hiệu quả, an toàn, có phổ rộng và có thể tiếp cận được, sẽ cho phép kiểm soát được dịch bệnh.

Những mối thách thức do virus HIV tạo nên quả là có một không hai. Vài giờ sau khi bị lây nhiễm, nhiễm trùng hình thành một cách không cứu chữa được. Tính biến thiên di truyền khác thường của HIV cho phép nó thoát khỏi các phòng ngự miễn dịch của cơ thể bằng cách đánh lừa và phá hủy chúng dần dần.Một thí dụ : trong cùng buổi chiều hai người bị lây nhiễm bởi cùng một partenaire có thể bị nhiễm bởi hai virus hoàn toàn khác nhau. Trái với vaccin học cổ điển, có khuynh hướng bắt chước những phòng ngự tự nhiên, cho phép chữa lành một bệnh nhiễm trùng, chúng ta hoàn toàn không biết các cơ chế bảo vệ chống lại HIV bởi vì không một cá thể nào đã loại bỏ được virus này một khi bị nhiễm trùng.

Đồng thời, trong những năm qua những tiến bộ đạt được là quan trọng. Ta hiểu tốt hơn những biến cố liên kết với virus và ký chủ trong những giờ đầu của nhiễm trùng. Ta đã giải mã được những đặc điểm miễn dịch và di truyền của một số bệnh nhân hiếm hoi, mặc dầu bị nhiễm trùng, nhưng lại có khả năng kiểm soát vi khuẩn một cách tự nhiên mà không cần phải dùng thuốc. Mới đây những mảnh HIV ít khả dĩ biến dị hơn đã được nhận diện, như thế mở những đường hướng mới cho việc nghiên cứu vaccin.

MỘT THỬ NGHIỆM Ở THÁI LAN

Sau 25 năm thất bại, một thử nghiệm được thực hiện nơi 16.000 người tình nguyện ở Thái lan đã cho thấy rằng một “ ứng viên vaccin ” có khả năng làm giảm 30% số những trường hợp bị nhiễm trùng nơi những người được tiêm chủng. Mặc dầu cơ chế bảo vệ vẫn còn hoàn toàn bí ẩn, nhưng kết quả khiêm tốn này gợi ý rằng sự mắc phải HIV có thể được phong bế. Khả năng có một vaccin trở thành hiện thực bởi vì một sự cải thiện tỷ lệ bảo vệ khoảng 50% có thể có một tác động thật sự lên dịch bệnh. Cần đẩy nhanh công tác nghiên cứu để hiểu những cơ chế của sự bảo vệ này và cải thiện tính hiệu quả của một vaccin.

Bây giờ đây, chính cộng đồng khoa học và những người quyết định chính trị, cùng với các cộng đồng các bệnh nhân, những nhà nghiên cứu của các nước liên hệ, phải biến đổi những kết quả khiêm tốn này thành sự thành công của ngày mai. Phải trắc nghiệm với quy mô lớn nhiều “ candidat vaccin ”, bởi vì không có gì tiên đoán được tính hiệu quả của chúng. Cũng vậy, không ai có thể nói một vaccin có thể hiệu quả hay không nơi những người có tuổi tác, thể địa di truyền hay/và môi trường khác nhau.

Chúng ta phải lôi kéo những nhà nghiên cứu trẻ tuổi vào lãnh vực khó khăn này, tiếp tục sự cộng tác thật sự với công nghiệp sẽ phát triển những vaccin này. Phương pháp thực dụng này là đối tượng của một sự nhất trí rộng rãi của cộng đồng khoa học. Những mục tiêu để đạt được sẽ phải tốn kém. Những phương tiện tài chánh và cấu trúc cần thiết hôm nay không ở mức của đặt cuộc, đặc biệt là ở Pháp.

Sự nghiên cứu một vaccin chống lại HIV là một enjeu y tế công cộng và một cuộc phiêu lưu khoa học đặc biệt. Một vaccin ngay cả chỉ có tác dụng phòng ngừa một phần, được liên kết với một loạt những công cụ phòng ngừa, sẽ cho phép kiềm chế dịch bệnh. Điều đó vẫn là một ưu tiên và là một trong những thách thức quan trọng mà chúng ta sẽ phải vượt qua.
(LE FIGARO 6/7/2010)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 234 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (11/7/2011) 

1/ SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC.

NHỮNG ĐIỂM MỐC

BỆNH GIANG MAI. Được gây nên bởi một vi khuẩn, tréponème pâle (được nhận diện năm 1905), bệnh giang mai đã là bệnh rất gây chết người trong nhiều thế kỷ. Sự khám phá pénicilline vào giữa thế kỷ thứ XX đã cho phép làm bệnh lùi lại rất nhiều. Nhưng số các trường hợp đã lại bắt đầu gia tăng.

CÁC CON SỐ . Vào năm 2006 một công trình nghiên cứu được phối hợp bởi ORS (Obervatoire régional de la santé) ở Ile-de-France đã cho thấy rằng 37% các người đàn ông và 31% các phụ nữ đã không bao giờ được nghe nói về các chlamydiae. Cùng nhóm nghiên cứu cũng đã cho thấy rằng các phụ nữ đã thay đổi dài lâu hành vi tình dục (comportement sexuel) của họ sau một chẩn đoán nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục (infection sexuellement transmissible) để đuổi kịp hành vi tình dục của các phụ nữ đã không bị nhiễm trùng này. Nhưng không phải như thế đối với các người đàn ông.

BỆNH NẤM (MYCOSE) Phần lớn những người khai đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục thật ra lại bị một bệnh do nấm (mycose), không được xem là bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục. Trên thực tế, 12% các người đàn ông và 15% các phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi khai là đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục, được công nhận như vậy, trong suốt 5 năm qua.

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU . Một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh mới về những hành vi tình dục của những người Pháp đang được phân tích và sẽ được công bố vào mùa thu năm 2011 bởi ORS Ile-de-France. Những kết quả đầu tiên báo cáo một sự gia tăng trở lại của gián đoạn thai nghén tự ý (IVG : interruption volontaire de grossesse) và những nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục ở những người trẻ, cho thấy việc bỏ không sử dụng túi dương vật.
Vài bệnh trong số những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục như bệnh lậu (blennorragie) hay chlamydiose có khuynh hướng gia tăng.

DEPISTAGE. “ Giữa năm 2008 và 2009, sự gia tăng các trường hợp bệnh lậu (gonocoocie) đã đạt đến 52% ở Pháp. Căn bệnh này không còn giới hạn vào các nhóm có nguy cơ nữa nhưng từ nay được quan sát trong toàn bộ dân chúng ” , BS Caroline Semaille, người phụ trách đơn vị VIH/IST/viêm gan B và C thuộc Viện quốc gia theo dõi y tế (INVS : Institut national de veille sanitaire), đã nhấn mạnh như vậy. Căn bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, gây nên bệnh lậu, có một thời gian tiềm phục rất ngắn và tỏ ra là một sentinelle thật sự đối với những hành vi có nguy cơ. Ngoài ra, những con số mới nhất mà IVNS nhận được vào năm 2009, cho thấy một sự gia tăng đáng kể các trường hợp nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia trachomatis, ảnh hưởng lên gần 10% các phụ nữ trẻ trong vài tỉnh.

Sau cùng, mặc dầu sự gia tăng trở lại của bệnh giang mai được quan sát từ năm 2000 (trong khi căn bệnh này vốn gần như đã biến mất trong những năm 1990), rốt cuộc dường như đã bị dập tắt, nhưng số các trường hợp giang mai tiềm tàng (syphilis latente), được phát hiện khi nó không gây nên những triệu chứng rõ rệt nữa, từ nay chiếm 35% những trường hợp được phát hiện.

“ Dầu sao cũng cần phải nhắc lại rằng, ta ở xa các con số của những năm 1980 và đó không phải là một sự bùng nổ của các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, GS Michel Janier, chủ tịch section MST thuộc Hiệp hội khoa Da Pháp, đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên điều này đặt ra vấn đề về tính hiệu quả của những biện pháp được thiết đặt nhằm ngăn ngừa chúng.”

Mặc dầu khó xác định đâu là nguyên nhân chính xác của những gia tăng này, hai yếu tố dường như đóng một vai trò. VIH đã cho phép tầm thường hóa việc sử dụng bao dương vật, dẫn đến một sự sụt giảm đột ngột các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục vào cuối những năm 1980, nhưng không đủ để ngăn ngừa những nhiễm trùng khác có những cách truyền bệnh khác nhau. Fellation, được thực hiện thường nhất không cần đến bao dương vật, như thế cho phép sự lan truyền của nhiều mầm bệnh. Do đó sự biến đổi của những hành vi tình dục đóng một vai trò quan trọng.

Ngoài ra, mặc dầu vài bệnh nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục được phát hiện nhờ những dấu hiệu hiển nhiên như các dịch chảy bất thường ở dương vật, các triệu chứng rát lúc tiểu tiện, các khí hư âm đạo hay sự xuất hiện của những thương tổn khu trú, dầu vậy những thương tổn này thường im lặng không gây triệu chứng. Do đó nhiều người mang bệnh mà không biết, với những hậu quả quan trọng vì lẽ các bệnh lậu hay các bệnh do Chlamydia có thể dẫn đến có thai ngoài tử cung hay vô sinh nơi phụ nữ hay dẫn đến viêm nghiêm trọng của tuyến tiền liệt, của các tinh hoàn và mào tinh hoàn ở đàn ông.

“ Sự điều tra phát hiện là công cụ đấu tranh hiệu quả nhất để nhận diện chúng và điều trị chúng sớm, BS Semaille đã nhắc lại như vậy. Đó là tránh những biến chứng đối với bệnh nhân nhưng cũng để phòng ngừa những lây nhiễm mới, nhất là các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục lại làm dễ sự lây nhiễm bởi VIH. ”

Sau một giao hợp với một bạn đường phối ngẫu mới hay khi mới đây ta đã có nhiều bạn đường tình dục, điều quan trọng là thực hiện một phát hiện bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, mỗi năm lập lại một lần nếu tình trạng nguy cơ kéo dài. Chỉ có sự phát hiện bệnh giang mai là cần phải lấy máu mặc đầu không có những thương tổn có thể thấy được, còn những bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác được phát hiện nhờ một phân tích nước tiểu hay lấy một bệnh phẩm tại chỗ. 

Sự xuất hiện những xét nghiệm nhanh hẳn còn làm dễ hơn việc điều trị các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. “ Trong 5 năm nữa, việc xử trí điều trị các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục sẽ hoàn toàn khác. Đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự bởi vì, trong vòng một giờ, ta sẽ có thể có sự phát hiện, kết quả và điều trị ”, BS Chantal Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục-ung thư[*] chủng ngừa đã chỉ rõ như vậy.

Những traitement “ minute ”, dùng một liều cao duy nhất kháng sinh đã được khuyến nghị. Chúng cho phép tránh những điều trị lâu dài làm dễ sự xuất hiện các đề kháng đối với kháng sinh. Thí dụ các lậu cầu đã trở nên đề kháng với nhiều kháng sinh và từ nay điều trị phải là một mũi tiêm mông duy nhất 500 mg ceftriaxone.

Đối với những nhiễm trùng nguồn gốc virus (papillomavirus, herpès, viêm gan) không có điều trị có khả năng triệt trừ các virus, nhưng có một vaccin chống lại papillomavirus và các viêm gan A và B. “ Tiêm chủng là công cụ duy nhất hoàn toàn có hiệu quả. Tiếc thay việc tiêm chủng không được thực hiện rộng rãi nơi các người trẻ, là những đối tượng đặc biệt bị liên quan ”, BS Vernay-Vaidde đã nhắc lại như vậy. Sự tiêm chủng chống lại papillomavirus, hiện nay chỉ nhằm vào các phụ nữ trẻ, cũng có thể được đề nghị cho các người đàn ông.
(LE FIGARO 27/6/2011)

2/ “CHLAMYDIA ”, THẦM LẶNG NHƯNG CÓ MẶT 

“ Các nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia đang gia tăng một cách hằng định. Trong Boucles-du-Rhône, chúng tôi đã quan sát, vào năm 2010, một tỷ lệ lưu hành 9,3% ở các phụ nữ trẻ từ 20 đến 25 tuổi ”, BS Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa bệnh lây truyền bằng đường sinh dục-ung thư-tiêm chủng, đã chỉ rõ như vậy. Sự gia tăng hiện nay của Chlamydiae trachomatis ảnh hưởng chủ yếu các phụ nữ trẻ tuổi sau thời kỳ thiếu niên, nhưng cũng gây bệnh cho các người đàn ông. Ở quy mô quốc gia, các con số đạt đến 3,2% đối với các phụ nữ và 2,5% đối với những người đàn ông giữa 18 và 29 tuổi. Phần lớn nhưng nhiễm trùng đo Chlamydia vẫn thầm lặng không triệu chứng (giữa 60 và 70%) và thường được phát hiện lúc tìm kiếm một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác hay nhân một thăm khám thường quy. Sự gia tăng được quan sát như thế có thể là hậu quả của một công tác điều tra phát hiện tốt hơn, được làm dễ bởi những xét nghiệm nhanh hơn và dễ đề nghị hơn. Theo INVS, số các trường hợp chẩn đoán đã gia tăng 19% ở đàn ông và 25% ở phụ nữ giữa năm 2008 và 2009.

“ Đó là căn bệnh của tất cả mọi người, không có nhóm người nào nguy cơ hơn một nhóm khác, BS Chantal Vernay-Vaisse đã cảnh cáo như vậy. Do đó chúng tôi đề nghị phát hiện một cách hệ thống cho tất cả các phụ nữ dưới 30 tuổi vì lẽ có một nguy cơ bị vô sinh.” Thật vậy, trong hầu hết các trường hợp, các bệnh gây nên bởi chlamydia vẫn không có triệu chứng nhưng những hậu quả về lâu về dài của chúng có thể rất là nghiêm trọng. Các bệnh do chlamydia có thể là nguyên nhân dẫn đầu gây nên có thai ngoài tử cung nơi 2% các phụ nữ bị nhiễm trùng và là nguyên nhân gây vô sinh do tắc vòi trứng đối với 3% trong số những phụ nữ này. Ở người đàn ông, trong 5% các trường hợp, nhiễm trùng gây nên bởi chlamydia có thể dẫn đến viêm các tinh hoàn hay mào tinh hoàn. Sự phát hiện bằng PCR, được thực hiện với bệnh phẩm là tia phóng nước tiểu đầu tiên ở đàn ông và bằng một autoprélèvement par écouvillon nơi phụ nữ, từ nay được làm dễ bởi vì nó cho phép một phát hiện rất sớm, không phải chờ đợi những thương tổn vòi trứng được phát hiện nhờ những phân tích máu. “ Sự dễ dàng trong việc sử dụng có thể cho phép một sự điều tra phát hiện đại trà, kể cả bởi những người không thuộc ngành y tế ”, GS Michel Janier, chủ tịch của section MST của hiệp hội khoa da của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Việc điều trị cũng rất đơn giản và nhanh chóng : 1g azithromycine bằng một liều duy nhất.

Cũng như các bệnh gây nên bởi chlamydia, nhiều bệnh lây truyền bằng đường sinh dục có thể vẫn không gây triệu chứng và, chừng nào chẩn đoán không được xác lập và điều trị không được thực hiện, những người bị nhiễm trùng có thể tiếp tục truyền bệnh. Vậy điều thiết yếu là có khả năng nhận diện những bạn đường phối ngẫu ngay khi chẩn đoán được xác nhận, để phòng ngừa chúng và cho phép những người này tự điều trị lấy mình.

“ Vì ta đụng đến vấn đề tình dục, nên điều quan trọng là phải dùng thời gian để thảo luận với bệnh nhân, gây nơi họ lòng tin cậy và tránh mọi phán đoán để các thông tin thu được đúng là tương ứng với thực tế ”, BS Annie Vermersch-Langlin, trưởng khoa da liễu của bệnh viện Valenciennes đã đánh giá như vậy. Tính hiệu quả lớn nhất của chẩn đoán các bệnh gây nên bởi chlamydia có thể chỉ rõ rằng từ nay sự đối thoại được cởi mở hơn.
(LE FIGARO 27/6/2011)

3/ “ CHLAMYDIA ” VÀ THAI NGHÉN, CẶP ĐÔI NGUY CƠ

Vi khuẩn Chlamydia trachomatis là một nguyên nhân thường thấy của bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, nhất là ở phụ nữ. Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ sinh non gây nên bởi nhiễm trùng do chlamydia này trong lúc thai nghén nhưng các kết quả không hòa hợp. Theo một điều tra mới đây và quy mô lớn, các bệnh gây nên bởi Chlamydia (chlamydiose) có thể có một vai trò quan trọng trong nguy cơ sinh non. Hơn 4000 phụ nữ có thai đã tham dự vào sự theo dõi này bằng bảng câu hỏi với lấy mẫu nghiệm nước tiểu và tìm kiếm C.trachomatis bằng sinh học phân tử (PCR). Toàn bộ, nhiễm trùng đã được tìm thấy ở 4% các phụ nữ. Mặc dầu có tính đến những yếu tố làm gia trọng khác (tuổi dưới 21, nhiều bạn đường phối ngẫu), nguy cơ sinh non, hoặc sinh con từ 35 tuần thai nghén, được nhân lên gấp đôi trong trường hợp nhiễm trùng do chlamydia. Vì vậy, một sự điều tra phát hiện tốt hơn các phụ nữ nguy cơ và sự kê đơn một thuốc kháng sinh thích hợp trong thời kỳ thai nghén sẽ cho phép làm giảm nguy cơ này.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2011)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 237 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (1/8/2011) 

5/ SIDA : NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA MỚI.

Một hội nghị quốc tế đã xác nhận lợi ích của việc cắt bao quy đầu (circoncision) và ảnh hưởng của những điều trị kháng virus (traitements antiviraux) trong phòng ngừa.

EPIDEMIE. Hội nghị khoa học quốc tế về sida, đã quy tụ hơn 6000 chuyên gia, đã bế mạc hôm chiều thứ tư ở Rome và đã xác nhận những hướng mới để kiểm soát một dịch bệnh ảnh hưởng lên 33 triệu người. “ Trong những tháng qua, những khám phá về những tác dụng của điều trị trong sự truyền của virus có những ý nghĩa đáng kể, giáo sư Michel Kazatchkine, tổng giám đốc của Quỹ thế giới chống bệnh sida, sốt rét và bệnh lao đã giải thích như vậy. Như Pasteur đã từng nói, khi ta giảm bể chứa virus, sẽ có ít sự lây truyền hơn. Do đó sự phổ cập điều trị cho bệnh nhân là lựa chọn kinh tế hợp lý nhất. Ngày xưa có một biên giới thật sự giữa điều trị và lan truyền. Ngày nay điều đó không còn lý do để tồn tại ”. Trong khi sự phòng ngừa bằng bao dương vật (préservatif) trên bình diện cá nhân vẫn là chiến lược căn bản trong những nhóm người có nguy cơ, nhiều công trình nghiên cứu, được trình bày ở Rome, đã phát hiện những chiếc lược mới hay đã xác nhận chúng.

33 TRIỆU NGƯỜI BỊ NHIỄM BỞI VIRUS.

Như thế ý tưởng điều trị bằng những thuốc kháng virus (antiviraux) những người có nguy cơ để tránh sự lây nhiễm bắt đầu đạt đến đích. Một điều trị được tiến hành từ 7 /2007 đến tháng 12/2009 trong 6 nước, được thực hiện trên 2499 người từ 18 đến 65 tuổi, không bị nhiễm bởi virus sida, sử dụng hoặc Truvada, một phối hợp các thuốc kháng virus, hoặc một placebo. Đó là những người đồng tính luyến ái huyết thanh âm tính sống với một partenaire huyết thanh dương tính. Các kết quả được trình bày ở Rome cho thấy rằng những người được điều trị tích cực bằng những thuốc kháng virus có một nguy cơ mắc phải virus sida giảm 92%. Những công trình nghiên cứu khác đã xác nhận hiệu quả phòng ngừa của một điều trị phòng ngừa ở những người huyết thanh âm tính nhưng có nguy cơ. “ Chúng ta còn trong lãnh vực nghiên cứu, giáo sư Jean-François Delfraissy, tổng giám đốc của Cơ quan nghiên cứu về bệnh sida (ANRS) đã xác nhận như vậy. Những biện pháp phòng ngừa khác chủ yếu không được bỏ qua bên. Mặt khác, ý tưởng cho các loại thuốc kháng virus để phòng ngừa dấy lên nhiều vấn đề, nhất là xã hội.”

Chủ đề lớn khác được đề cập ở Rome là vai trò của cắt bao quy đầu trong đấu tranh chống lại sida. Lần đầu tiên, một nghiên cứu-hành động (recherche-action), nhằm áp dụng những kết quả của nghiên cứu trong “ đời sống thật sự ”, đã cho thấy rằng việc cắt bao quy đầu cho phép hạ tỷ lệ nguy cơ bị nhiễm bởi virus sida 76% ở những người đàn ông. Công trình nghiên cứu này của ANRS, được tiến hành bởi Bertran Auvert, thuộc Inserm, đã được thực hiện trong bidonvile d’Orange Farm, trong ngoại ô của Johannesburg, ở đây nhiễm trùng đã đạt những mức đặc biệt cao : ở tuổi 35-39, 40% những người đàn ông không được cắt bao quy đầu bị nhiễm bởi VIH, và 45% các phụ nữ. Sau một chiến dịch cổ động tích cực, hơn 20.000 người đàn ông đã đến để được cắt bao quy đầu trong những trụ sở được thiết lập dành cho nghiên cứu. Trên một mẫu được trắc nghiệm gồm 1000 người, một nửa được cắt bao quy đầu, còn nửa kia thì không, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng với cùng hành vi sinh dục (comportement sexuel) (sử dụng các bao dương vật, các partenaire), trong nhóm được cắt bao quy đầu tỷ lệ bị nhiễm trùng ít hơn 76%. “ Nếu trong cộng đồng này, trong thời kỳ đó, nếu không một người đàn ông nào đã được cắt bao quy đầu, tỷ lệ (số những trường hợp mới) của nhiễm trùng đối với VIH là 58% cao hơn ”, giáo sư Auvert đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên, đó là một chiến lược được thêm vào, phải được phối hợp với những biện pháp phòng ngừa khác và không nhất thiết thích ứng với những nước giàu, theo các nhà nghiên cứu.

Cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida luôn luôn cần đến tài trợ : chỉ 6,6 triệu người được hưởng một điều trị trên thế giới, trong khi 15 triệu hết sức cần được điều trị trên 33 triệu người bị lây nhiễm.
(LE FIGARO 22/7/2011)


THỜI SỰ Y HỌC SỐ 244 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (10/10/2011) 

5/ BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ MỘT BIOPUCE !

Phát hiện bệnh sida và khoảng một chục bệnh nhiễm trùng khác trong vòng chỉ 20 phút và từ một giọt máu đơn giản ? Đó là điều được hứa hẹn bởi“ mChiap ”, một trắc nghiệm máu được sáng chế bởi Samuel Sia, giáo sư của Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Với kích thước của một carte de crédit, phòng xét nghiệm bé xíu có thể mang theo này phát hiện những protéine đặc trưng của các bệnh khác nhau qua những phản ứng hóa học trên những nanoparticule bằng vàng và bằng bạc. Một carte chứa nhiều puce và do đó có khả năng phân tích máu của nhiều bệnh nhân. Mặt khác, mỗi puce có thể phát hiện đồng thời nhiều loại nhiễm trùng khác nhau.“ Thiết bị được thiết kế để cho, trên cùng một carte, mỗi trắc nghiệm mang tính chất độc lập và không ảnh hưởng kết quả của những trắc nghiệm khác ”, Vincent Linder, một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Được trắc nghiệm trên nhiều trăm bệnh nhân ở Rwanda, “ mchip” cho những kết quả, dương tính hoặc âm tính, với một mức độ chính xác gần 100% đối với những nhiễm trùng do HIV và giang mai. Ưu điểm sau cùng : giá cả của nó. Tiềm năng có thể thương mãi hóa với giá từ 1 đến 3 dollar mỗi đơn vị, biopuce này mở ra những triển vọng chưa từng có trong công tác điều tra phát hiện đại trà trong những nước đang phát triển. Giai đoạn kế tiếp từ nay là thích ứng trắc nghiệm với virus của viêm gan B. 
(SCIENCE ET VIE 10/2011)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 252 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/12/2011) 

10/ SIDA : PHUƠNG PHÁP MỚI ĐỂ LÀM GIẢM NHẸ NHỮNG BÓ BUỘC CỦA TAM LIỆU PHÁP. 

BS Jacques Leibowitch, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, giảng viên tại bệnh viện Raymond-Poincarré de Garches, tác giả của “ Pour en finir avec le sida ”, édition Plon.

Hỏi : Ngày nay ở Pháp, tần số của những người bị nhiễm bởi virus bệnh sida là gì ?
BS Jacques Leibowitch: 100.000 bệnh nhân đang được điều trị. Theo Viện theo dõi y tế, 7.000 đến 8.000 người bị nhiễm mỗi năm bởi virus HIV. Nhưng nhiều người khác, bị lây nhiễm mà không biết, tiếp tục truyền virus.

Hỏi : Những kết quả của tam liệu pháp (trithérapie) hiện nay đến đâu rồi ?
BS Jacques Leibowitch: Có nhiều phối hợp các thuốc chống virus (với 31 loại thuốc), mà ta có thể kê đơn thích ứng với mỗi cá thể, tùy theo những kết quả có được và mức độ dung nạp của mỗi người. Nhưng những điều trị này, mặc dầu chúng ngăn cản sự xuất hiện bệnh bằng cách phong bế virus, lại không giết chết nó. VIH, mặc dầu trở nên không thể phát hiện với điều trị, nhưng hoạt động trở lại ngay khi ngừng tam liệu pháp (trithérapie).Tùy theo trường hợp và tuổi tác, những người huyết thanh dương tính có được sự thuyên giảm nhiều chục năm.

Hỏi : Những tác dụng phụ nào đã khiến ông muốn cải thiện sự thoải mái của những bệnh nhân được điều trị tam liệu pháp.
BS Jacques Leibowitch : Việc phải theo đuổi điều trị hàng ngày và suốt đời, mà sự ngừng thuốc là một mối đe dọa khủng khiếp, tạo nên một gánh nặng về tâm lý. Vài bệnh nhân bảo là họ cảm thấy bị gò bó như thể bị cầm tù với lưỡi gươm Damoclès treo lơ lửng trên đầu. Protocole dùng thuốc mới ngày này cũng bao gồm những nguy cơ tuân thủ điều trị kém trong trường hợp có những biến cố làm đảo lộn cuộc sống (tang chế, mất việc, ly dị). Mặt khác, sự tích tụ lâu dài các loại thuốc tạo nên những nguy cơ bị các biến chứng mặc dầu chúng hiếm xảy ra : những vấn đề tim mạch, suy thận

Hỏi : Quan niệm về phương pháp mới của ông là gì ?
BS Jacques Leibowitch : Mục đích là làm giảm những bó buộc và những nguy cơ, đồng thời bảo tồn tính hiệu quả của tam liệu pháp hiện nay. Ta đã có thể quan sát thấy rằng virus, một khi không thể phát hiện được sau một năm điều trị cổ điển, cần nhiều ngày để tái hoạt động và tăng sinh. Kíp của chúng tôi căn cứ trên thời gian tiềm tàng này để cho cách quãng những lần uống thuốc, mỗi lần với cùng liều lượng và cùng loại thuốc.

Hỏi : Những thử nghiệm nào đã được thực hiện với protocole này ?
BS Jacques Leibowitch : Từ năm 2003, 70 bệnh nhân đã thuận theo protocole này. Trước hết, tất cả đã được điều trị trong một năm với một liệu pháp quy ước, cho đến khi virus không thể phát hiện được. Sau đó số lần dùng thuốc đã được giảm dần, mỗi 6 tháng, với nhịp độ dùng thuốc một ngày mỗi tuần. Sự giảm được thực hiện vô cùng chậm và thận trọng, với sự theo dõi rất nghiêm túc. Hôm nay, 30 bệnh nhân chỉ dùng thuốc hai lần mỗi tuần nhưng không gây nên một sự tái hoạt động nào của virus. Chúng tôi thu được cùng những kết quả với protocole cổ điển 7 ngày mỗi tuần. Phải nhắc lại rằng chúng tôi vẫn luôn luôn trong một thời kỳ thử nghiệm, mặc dầu không được chính thức công nhận, nhưng được cho phép vì lý do nghĩa vụ luận y khoa.

Hỏi : Một tạp chí khoa học phải chăng đã trình bày những kết quả của ông 
?
BS Jacques Leibowitch : Những kết quả này đã được công bố trong tạp chí quốc tế sinh-y học “ Faseb Journal ” (Federation of American Societies for Experimental Biology). Tôi cũng đã trình bày những quan sát dương tính này nhân Hội nghị quốc tế mới đây về Sida.

Hỏi : Tóm lại, những lợi ích của việc làm nhẹ điều trị (allégement thérapeutique) này là gì ?
BS Jacques Leibowitch : Lợi ích lớn nhất là tâm lý. Đối với những bệnh nhân đang được nghiên cứu của chúng tôi, sự thay đổi này được xem như là một hình thức giải phóng. Vài người bệnh nói rằng họ cảm thấy ít bị tù túng với căn bệnh của mình. Lợi điểm khác : một sự tuân thủ điều trị tốt hơn nhiều. Trên bình diện sinh lý, có thể chịu ít hơn nhiều những tác dụng của một “ tủ thuốc nặng nề.”. Thí dụ trong 10 năm, một bệnh nhân với điều trị hai ngày mỗi tuần sẽ nhận tương đương 7 năm rưỡi các loại thuốc ít hơn so với một bệnh nhân khác được điều trị với tam liệu pháp cổ điển.

Hỏi : Vì những thử nghiệm của ông vẫn luôn luôn không được hợp thức hóa, thế thì những hy vọng của ông nằm ở đâu ?
BS Jacques Leibowitch : Mục đích của kíp nghiên cứu chúng tôi là thuyết phục được các chuyên gia và các cơ sở y tế đến lược họ tiến hành những nghiên cứu về protocole mới này, nhưng lần này phải được hợp thức hóa.
(PARIS MATCH 1/12 – 7/12/2011)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 256 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (23/1/2012) 

5/ SIDA : THUỐC DÁN CHỐNG VIRUS (PATCH ANTIVIRAL)

Những điều trị chống virus bệnh Sida (VIH) có bất tiện là phải dùng thuốc viên : sự hấp thụ qua đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc trước tiên phải qua gan trước khi đến đích, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây ngộ độc gan. Một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ ở Maryland đã quan tâm đến một thuốc kháng virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là một sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt, thuốc phong bế sự đi vào trong các tế bào của VIH ; mặt khác thuốc ức chế men cho phép nó hội nhập trong ADN của những tế bào bị nhiễm virus. Ưu điểm khác : thuốc có thể được phân phát bằng đường qua da, điều này đảm bảo sự cho thuốc đều đặn và lâu dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence với gan.. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một patch có thể phát ra một cách liên tục 96% thuốc trong một tuần. Thuốc mới này sẽ được trắc nghiệm ở các động vật và người.
(LE FIGARO 29/12/2011 – 4/1/2012)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 273 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (2/7/2012) 

8/ SIDA CÓ CÒN LÀ MỘT CĂN BỆNH CHẾT NGƯỜI ? 

Dominique Costagliola
Epidémiologiste


Nhiễm trùng bởi HIV dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch (immunodépression) (sụt giảm tỷ lệ của vài loại tế bào, những tế bào lympho CD4) và gây nên bệnh Sida (sự xuất hiện một trong 23 nhiễm trùng cơ hội hay những khối u liên kết với tình trạng suy giảm miễn dịch). Phải cần khoảng 8 năm sau khi bị nhiễm trùng bởi HIV để tỷ lệ CD4 trở nên dưới 200/mm3 và khoảng 10 năm để bệnh sida xuất hiện. Những phối hợp của các antirétroviraux được sử dụng để điều trị nhiễm trùng cho phép kiểm soát sự tăng sinh (réplication) của virus trong máu : điều đó kèm theo một sự gia tăng trở lại tỷ lệ CD4 và một sự giảm nguy cơ bị bệnh sida và tử vong. Ở Pháp, khoảng 110.000 người bị nhiễm bởi HIV đã được điều trị năm 2010 và 87% được điều trị bởi các antirétroviraux. Gần 90% các bệnh nhân được điều trị trong ít nhất 6 tháng đã có một charge virale được kiểm soát.

TÌNH HUỐNG RẤT TƯƠNG PHẢN

Trong bối cảnh này, tỷ lệ tử vong ở Pháp đi đến đâu rồi ? Tình huống rất là tương phản tùy theo các bệnh nhân và phần lớn tùy theo giai đoạn bệnh vào lúc chẩn đoán bệnh nhiễm trùng và tùy theo sự điều trị. Khoảng 1/3 bệnh nhân lúc được điều trị đã ở giai đoạn bệnh sida hay một nồng độ CD4 dưới 200/mm3. Thí dụ, 12,7% những bệnh nhân được điều trị khi đã bị bệnh sida chết trong vòng 4 năm, trong khi tỷ lệ tử vong chỉ 1,6% đối với những bệnh nhân được điều trị lúc tỷ lệ CD4 của họ trên 200/mm3.

Ở những người không dùng ma túy bằng đường tĩnh mạch, có tỷ lệ CD4 trên 500/mm3 được điều trị bằng antirétroviraux, tỷ lệ tử vong tương tự với tỷ lệ tử vong của dân thường. 

Ở các phụ nữ trong cùng tình huống, khi được điều trị, ngay sau 3 năm, thời kỳ trong đó tỷ lệ CD4 lên trên 500/mm3. Đối với những bệnh nhân bắt đầu điều trị ở giai đoạn sida, nguy cơ tử vong trên nguy cơ của dân chúng nói chung, ngay cả khi tỷ lệ CD4 trở nên trên 500/mm3 sau khi được điều trị.

CÁC UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH GAN

Người ta chết vì sao ? Những công trình nghiên cứu “ ANRS Mortalité ” được thực hiện năm 2000 và năm 2005 đã cho thấy rằng khoảng 1700 người bị nhiễm bởi HIV đã chết vào năm 2000, và 1830 vào năm 2005. Vào năm 2005, 36% những trường hợp tử vong được gây nên bởi một căn bệnh do sida, 17% bởi một ung thư (ngoài viêm gan), 15% do một bệnh của gan, 8% do một bệnh tim mạch và 5% do tự tử. Phần của những tử vong do những nguyên nhân này đã gia tăng giữa năm 2000 và 2005 và phần của những tử vong do bệnh sida đã giảm. Thật vậy, những bệnh nhân bị nhiễm bởi HIV, kể cả những bệnh nhân có charge virale được kiểm soát, có nhiều nguy cơ phát triển các ung thư, các bệnh tim mạch và những bệnh gan hơn so với dân thường. 

Hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm HIV khi được điều trị là gì ? Một công trình nghiên cứu mới đây của Anh vừa cho thấy rằng, trong thời kỳ từ năm 1996 đến 2006, hy vọng sống của một người đàn ông 20 tuổi sống với HIV và được điều trị là 39,5 năm. Con số này là 50,2 năm đối với một phụ nữ. Đối với dân chúng nói chung, hy vọng sống được ước tính lần lượt là 57,8 và 61,6. Yếu tố “ CD4 ” ở đây còn có tính chất quyết định : một bệnh nhân 20 tuổi bắt đầu điều trị khi tỷ lệ CD4 dưới 100/mm3 có một hy vọng sống 37,9 năm. Con số này là 41 năm nếu các antirétroviraux được cho khi tỷ lệ CD4 giữa 100 và 200/mm3, và 53,4% khi tỷ lệ CD4 nằm giữa 200 và 350/mm3.

Tất cả những dữ kiện này nhấn mạnh rằng chẩn đoán nhiễm trùng HIV phải được thực hiện càng sớm càng tốt để hạn chế nguy cơ gây tử vong và rằng có thể hy vọng đạt được một hy vọng sống gần với mức trung bình khi điều trị không được bắt đầu ở một giai đoạn quá muộn của nhiễm trùng.
(LE FIGARO 28/11/2011)

9/ SIDA : MỘT LOẠI THUỐC ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM ĐỂ PHÒNG NGỪA

Những điểm chủ yếu :

  • Lần đầu tiên, một antirétroviral được sử dụng ở những người huyết thanh âm tính (séronégatif) để là giảm nguy cơ truyền bệnh.
  • Thuốc này sẽ chỉ được sử dụng bổ sung những kỹ thuật phòng ngừa khác
  • Thử nghiệm này gây dè dặt và thận trọng

Đó là một première trong thế giới phương tây : Cơ quan nghiên cứu bệnh Sida của Pháp đã phát động thử nghiệm đầu tiên sử dụng một loại thuốc antirétroviral như là một công cụ phòng ngừa bệnh.

Ta đã biết rằng điều trị những bệnh nhân có bệnh sida đã phát triển làm giảm tỷ lệ virus trong máu và làm giảm nguy cơ gây lây nhiễm đối với những người phối ngẫu. Từ vài năm nay, các antirétroviraux cũng được sử dụng như một điều trị dự phòng (phòng ngừa) sau khi bị tiếp xúc do tai nạn với virus của sida, hoặc sau một sự cố đối với bao dương vật, hoặc khi bị hiếp dâm trong đó nạn nhân không biết tác giả có huyết thanh dương tình hay không hoặc khi một nhân viên điều trị bị tiếp xúc lúc điều trị bệnh nhân. Các thuốc antirétroviraux làm giảm một cách đáng kể nguy cơ lây nhiễm và Bỉ là một trong những nước đầu tiên bồi hoàn điều trị này cho bệnh nhân.

Ở đây đó là một sự sử dụng mới những loại thuốc antirétroviraux : Nó sẽ được đề nghị cho 300 người tình nguyện, những người đàn ông và những transsexuel huyết thanh âm tính có những quan hệ tình dục với những người đàn ông không sử dụng một cách hệ thống một bao dương vật (préservatif), với ít nhất hai partenaire sexuel khác nhau trong 6 tháng trước khi tham gia vào thử nghiệm ”, BS Bruno Spire, trưởng kíp của Inserm đang tiến hành thử nghiệm này đã giải thích như vậy. “ Thử nghiệm so sánh hai nhóm, một nhóm sẽ nhận một biothérapie antirétrovirale, nhóm kia một placebo. Những loại thuốc này sẽ không được dùng liên tục, nhưng theo nhu cầu, trong thời kỳ hoạt động sinh dục. Những người tham gia sẽ bắt đầu dùng thuốc trước những giao hợp, và chấm dứt sử dụng sau thời kỳ hoạt động sinh dục ”.

Những người chủ xướng thử nghiệm đã dự kiến rằng mọi người tham dự, dầu thuộc nhóm nào, sẽ được đề nghị một biện pháp phòng ngừa tăng cường : phân phát các túi dương vật, điều tra phát hiện đều đặn HIV và những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, tiêm chủng chống lại các bệnh viêm gan A và B. Những người tham gia có thể nhận nếu họ muốn những lời khuyên cá thể hóa về phòng ngừa.

Vậy ý tưởng là sử dụng thuốc như thành trì chống lại sự lây nhiễm. Điều đó đã được trắc nghiệm, nhưng với những kết quả không hoàn hảo : vào tháng 7 2010, “ Le Soir ” đã báo cáo những kết quả của một thử nghiệm được tiến hành ở Nam Phi, đã cho thấy rằng sự sử dụng một gel chứa một antirétroviral làm giảm 39% nguy cơ nhiễm trùng. Một thử nghiệm khác, thử nghiệm duy nhất được tiến hành ở những người đồng tính luyến ái, ở Nam Mỹ và Thái Lan, đã cho thấy rằng nguy cơ lây nhiễm được giảm 44% ở những người tình nguyện theo một điều trị thường trực. Tính hiệu quả tương đối của nó dường như do sử dụng điều trị mà không quên.

Những tỷ lệ này vẫn khiêm tốn, rất xa với những tỷ lệ mà một kỹ thuật “an toàn ” phòng ngừa chống lại nhiễm trùng sẽ đề nghị. Chính vì vậy những người chủ xướng thử nghiệm này vẫn rất thận trọng về tính hiệu quả khả dĩ của loại chiến lược này nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm trùng, nhưng cho rằng phải đánh giá xem nó có thể được thêm vào những kỹ thuật hiện có hay không : “ Chính nhờ phối hợp những phương tiện phòng ngừa mà ta sẽ có thể kềm chế được dịch bệnh HIV, bằng cách sử dụng những phương tiện mà tính hiệu quả đã được chứng minh, như túi dương vật, và bằng cách đánh giá lợi ích của công cụ mới như chiến lược này. Đó là vai trò của chúng tôi tiến hành những nghiên cứu này ”, GS Jean-François Delfraissy, giám đốc ANRS đã giải thích như vậy. “ Nghiên cứu cần thiết chống lại bệnh sida phải tiến triển và phải chào đón sự kiện thử nghiệm này được tiền hành, Thierry Martin, giám đốc Plateforme Prévention sida đã phát biểu như vậy. Nhưng vẫn phải thận trọng, nhất là đối với nguy cơ do sự kiện những người tham dự có thể cảm thấy được bảo vệ chống lại sự lây nhiễm. Tỷ lệ giảm nguy cơ 30 hay 40%, đó là khiêm tốn so với những phương tiện làm giảm khác. Mặt khác, họ không nên làm gia tăng nguy cơ của mình do dựa vào tính hiệu quả của điều trị. Ngoài ra điều trị này có một phí tổn, khoảng 600 euro mỗi tháng, cao hơn nhiều phí tổn của một túi dương vật, lại hiệu quả hơn nhiều. Không sử dụng bao dương vật, đó cũng là tiếp xúc với những bệnh lây nhiễm đường sinh dục khác, để chống lại chúng thuốc antirétroviral không có tác dụng bảo vệ ”. Nhà chuyên gia phòng ngừa cũng tự hỏi về những tác dụng phụ khả dĩ của điều trị, cũng như khả năng đề kháng gia tăng của virus đối với thuốc nếu chiến lược này một ngày nào đó được áp dụng trên một quy mô lớn.
(LE SOIR 5/1/2012) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 280 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (13/9/2012) 

7/ PHÁT HIỆN HIV : MỘT AUTOTEST Ở HOA KỲ

FDA, cơ quan chính phủ của Hoa Kỳ, vừa cho phép thương mãi hóa một trắc nghiệm tự làm lấy (autotest) phát hiện nhanh virus của bệnh sida (OraQuik). Mọi người Mỹ đều sẽ có thể mua tự do trong các hiệu thuốc và drugstore ngay tháng 10 sắp đến với giá 17,50 dollars (14 euro). OraQuick cho kết quả trong 20 đến 40 phút, chỉ cần lấy nước miếng ở lợi răng. Trắc nghiệm này đáng tin cậy trong 99,98% các trường hợp khi người thử không bị lây bệnh và 92% khi họ bị nhiễm sida. Lý lẽ khiến FDA bật đèn xanh chủ yếu là do sự kiện rằng Hoa Kỳ có 1,2 triệu người bị lây nhiễm, trong đó 20% không biết là mình bị huyết thanh dương tính.

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 283 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (11/10/2012) 

Un mal qui “dévore ”

Bệnh giang mai theo Girolamo Fracastor, thi sĩ và thầy thuốc, trong Syphilis Sive Morbus Gallicus (1530)

“ La peau de toutes parts se diapre d’ulcères,
Le visage et le sein sont horribles à voir ;
De l’âcre et lourd fluide, immonde réservoir,
Sur le corps douloureux des pustules formées,
Surgissent, sous l’aspect de glandes enflammées,
Qui bientôt entrouvrant leur cratère repu,
Jette un jus visqueux teint d’un sang corrompu.
En même temps, le mal qui sort par chaque pore,
S’enfonce et prend racine en ce corps q’il dévore.”
Các bệnh nhân chết trong những tháng hoặc năm sau khi bị lây nhiễm trong sự đau đớn ghê gớm. Y khoa bất lực trước tai họa này, được lan truyền do “ thương mãi tình dục ” (commerce sexuel) của một người đàn ông lành mạnh với một người đàn bà bị bệnh và ngược lại, ngay năm 1514, thầy thuốc ngoại khoa của giáo hoàng, Jean de Vigo, đã tiết lộ như vậy trong Traité sur le mal français của ông.

CÁC NHÀ GIẢ KIM (ALCHIMISTE) LÀM GIÀU

Với rất nhiều phí tổn người ta cho mang đến bois de gaic, một loại cây nhỏ từ Trung Mỹ, để điều trị các ông lớn của thế giới này : François đệ nhất, Charles Quint hay giáo hoàng Alexandre VI Borgia. Rồi trước sự vô hiệu của phương thuốc, các thầy thuốc hướng về các muối thủy ngân, được cho bằng cách xoa (friction) hay xông (fumigation). Những tác dụng của điều trị, rất độc, thật là tai hại, ngoại trừ đối với các nhà luyện kim, lại trở nên giàu có. Trong khi đó căn bệnh mất tính độc lực để biến thành một dạng bệnh giảm nhẹ hơn mà ta biết ngày nay. “ Những mầm bệnh ban đầu đưa đến sự tử vong nhanh chóng của bệnh nhân được loại bỏ khá nhanh, nhường bước cho những giống gốc ít độc lực hơn nhưng có khả năng lan truyền hơn ở loài người ”, GS Berche đã giải thích như vậy. 

Mặc dầu những sai lầm nghiêm trọng, như chủng tréponème hay tác nhân gây bệnh sốt rét cho những người bị bệnh giang mai, y khoa sau cùng sẽ bắt đầu ghi điểm vào đầu thế kỷ XX. Vào năm 1905, tréponème pâle được nhận diện bởi hai nhà bác học người Đức Fritz Schaudinn và Erich Hoffmann. 5 năm sau, cha đẻ của hóa học liệu pháp, người Đức Paul Ehrlich, hiệu chính loại thuốc đầu tiên hiệu quả chống bệnh giang mai : Salversan, dẫn xuất của Arsenic. Nhưng độc tính của nó, mặc dầu ít hơn rất nhiều so với độc tính của thủy ngân, vẫn tạo vấn đề. Ngoài ra, trái với pénicilline, nó không chữa lành những bệnh nhân ở giai đoạn cuối (stade tertiaire).

Mang lại cú đấm sát thủ, John Mahoney là “ người chủ chốt quan trọng sau cùng của động tác điều trị này chống lại bệnh giang mai ”, GS Berche đã viết như vậy. Nhờ ông, cơn ác mộng y tế, gây nên bởi sự va chạm giữa hai thế giới, trong đó dân chúng, cách xa nhau từ nhiều thiên niên kỷ, đã trao đổi cho nhau những mầm bệnh của tử thần, đối với đại đa số những người đương thời của chúng ta, chỉ còn là một kỷ niệm xa xôi.
(LE FIGARO 14/8/2012)

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 286 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/11/2012) 

6/ SIDA : VACCIN HỨA HẸN Ở PHỤ NỮ.

Morgane Bomsel, Nữ giám đốc nghiên cứu ở CNRS, giải thích tác dụng của vaccin mới này mà những kết quả đầu tiên rất là đáng phấn khởi. 

Hỏi : Ở Pháp, hiện nay bao nhiêu người bị nhiễm bởi virus Sida ?
Morgane Bomsel : Ta thống kê 150.000 trường hợp huyết thanh dương tính (với 6000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó 1700 trường hợp tử vong) nhưng thêm 40.000 đến 50.000, có lẽ không hay biết mình bị huyết thanh dương tính. Mặc dầu không có triệu chứng, những người này có thể truyền virus. Mặc dầu những chiến dịch phòng ngừa, những con số này đã không giảm từ năm 2009.

Hỏi : Trong đất nước chúng ta, những loại người nào thường bị ảnh hưởng nhất ?
Morgane Bomsel : Trong 50% các trường hợp, đó là những phụ nữ bị lây nhiễm khi giao hợp không được bảo vệ, và 20% những người đồng tính luyến ái có huyết thanh dương tính.

Hỏi : Vì những lý do gì số những trường hợp huyết thanh dương tính đã không hạ xuống ?
Morgane Bomsel : Với sự xuất hiện của tam liệu pháp (trithérapie), bệnh sida đã trở nên tầm thường hóa. Ngày nay bệnh sida quá thường được xem như là một bệnh mãn tính, do đó gây nên một sự giảm cảnh giác. Vấn đề khác : những người trẻ có thể không muốn khám phá tình dục của họ với một bao dương vật.

Hỏi : Từ lâu người ta đã tìm cách hiệu chính một vaccin nhưng không thành công. Tại sao bị những thất bại này ?
Morgane Bomsel : Có 3 lý do. 1. Virus sida rất dở chứng : nó thay đổi hình dạng mỗi khi tăng sinh. Dẫu sao, virus vẫn giữ vài trong số những thành phần bền vững của nó. 2. Virus sida có khả năng trốn, do đó không thể phát hiện nó để loại bỏ nó. 3. Virus đi qua niêm mạc, ở đó nó tạo nên những ổ dự trữ (réservoir de virus), trước khi đi vào máu. Vậy có hai giai đoạn trong quá trình nhiễm trùng. Thế mà, cho mãi đến nay, tất cả các vaccin thử nghiệm đều nhằm ức chế virus ở máu, vào giai đoạn 2, do đó thất bại.

Hỏi : Hiện này bà đang tiến hành một công trình nghiên cứu ở phụ nữ với một loại vaccin mới. Cơ chế tác dụng của nó là gì ?
Morgane Bomsel : Chúng tôi đã nghiên cứu một nhóm các phụ nữ đã từng có những giao hợp không được bảo vệ với những bạn đường phối ngẫu huyết thanh dương tính (partenaire séropositif), và đã đề kháng với nhiễm trùng. Chúng tôi đã có thể chứng minh rằng tất cả những phụ nữ này đều mang, trong các chất dịch âm đạo của họ, những kháng thể đặc hiệu có khả năng phát hiện virus và phong bế không cho virus đi vào trong các niêm mạc. Các kháng thể là những tác nhân được chế tạo bởi cơ thể phản ứng lại với sự tấn công của một yếu tố lạ và có khá năng loại bỏ nó. Chúng tôi đã phân tích những kháng thể này trong phòng thí nghiệm và khám phá rằng chúng nhận biết những yếu tố của virus vẫn còn ổn định sau khi biến hóa và chúng có thể phong bế sự đi vào của virus. Vậy chúng tôi đã tìm cách hiệu chính một vaccin có thể tạo lại những dịch tiết âm đạo đề kháng này. Những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi trên thỏ cái đã tỏ ra rất thỏa mãn. 5 phụ nữ đã được tiêm chủng và 6 phụ nữ khác đã nhận một placebo : 6 tháng sau khi tất cả bị nhiễm trùng, chỉ có những phụ nữ được tiêm chủng là được bảo vệ.

Hỏi : Bây giờ bà đã chuyển qua những thử nghiệm ở phụ nữ. Protocole là gì ?
Morgane Bomsel : Cộng tác với société Mymetics, một công trình nghiên cứu đã được tiến hành, bắt đầu với trắc nghiệm tính vô hại của vaccin ở những phụ nữ lành mạnh trong một quần thể có nguy cơ thấp. Sau khi đã chứng minh sự vắng mặt độc tính và khả năng của vaccin sinh ra những kháng thể chống lại virus, chúng tôi đã tìm cách chứng minh xem những kháng thể này có khả năng phong bế virus hay không, như những kháng thể được phát triển bởi những phụ nữ đề kháng. Nhưng vì ta không thể gây nhiễm các phụ nữ trong thí nghiệm, nên những công trình này đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm ex vivo với những mẫu nghiệm niêm mạc âm đạo. Kết quả : thử nghiệm đã thành công trong các dịch tiết được trắc nghiệm và vaccin đã tỏ ra hoàn toàn có hiệu quả ! Virus đã không có thể đi vào trong niêm mạc. 

Hỏi : Giai đoạn sắp đến sẽ là gì ?
Morgane Bomsel : Giai đoạn sắp đến nhằm tiêm chủng ở châu Âu 200 phụ nữ có nguy cơ và có những giao hợp không được bảo vệ. Những phụ nữ này sẽ được chia thành hai nhóm : một nhóm sẽ được tiêm chủng, còn nhóm kia thì không. Những kết quả sẽ thu được 3 năm sau. Nhưng để tiến hành công trình nghiên cứu này, chúng tôi thiếu những phương tiện tài chánh. Các quà biếu sẽ là mot hỗ trợ đáng kể. 
(PARIS MATCH 8/11 – 14/11/2012)

7/ SIDA : CÁC THUỐC CHỐNG VIRUS HIV ĐƯỢC CHO BẰNG THUỐC DÁN (PATCH)

Những điều trị chống virus sida HIV có bất tiện là phải dùng thuốc uống. : sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc phải qua gan đầu tiên trước khi đến đích điều trị, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây độc cho gan. Một kíp các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong tiểu bang Maryland đã quan tâm đến một thuốc chống virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt nó phong bế sự đi vào trong các tế bào của virus HIV, mặt khác thuốc ức chế enzyme cho phép virus HIV hội nhập vào ADN của những tế bào bị nhiễm. Lợi điểm khác : thuốc có thể được cho bằng đường qua da, điều này bảo đảm thuốc được cho đều đặn và kéo dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence trong gan. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một thuốc dán (patch) có thể phát ra 96% thuốc một cách liên tục trong một tuần. Thuốc dán này sẽ được trắc nghiệm trên các động vật và ở người.
(PARIS MATCH 29/12/2011- 4/1/2012) 

THỜI SỰ Y HỌC SỐ 295 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH( 05/02/2013 )

1/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC : CÁC CHLAMYDIAS NHỮNG YẾU TỐ GÂY VÔ SINH.

3% các thanh niên từ 18 đến 25 tuổi bị nhiễm, trong khi điều trị rất là đơn giản.

Không phải là một sự tình cờ khi Viện quốc gia phòng ngừa và giáo dục y tế (Impes) Pháp đã quyết định phát động một chiến dịch phát hiện chlamydia, qua Internet, từ 3 tháng 9 đến 15 tháng 10 năm 2012 : “ Chúng tôi tiếp nhận, một cách cổ điển, một điểm cao các phụ nữ trẻ đến làm xét nghiệm vào tháng 9, hoặc bởi vì họ đánh giá đã chịu những nguy cơ vào mùa hè, hoặc bởi vì bạn đường phối ngẫu của họ có chất dịch chảy ra từ niệu đạo, hoặc bởi vì họ lo ngại vì một vấn đề khác : thí dụ các bệnh nấm (mycoses) ”, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa (bệnh viện mới Port-Royal, Paris) đã giải thích như vậy.

Những phụ nữ trẻ này sau khi được khám đã nhận một thông tin hoàn chỉnh nhân cơ hội này : “ Chúng tôi giải thích cho họ rằng chlamydia là một vi khuẩn thường nhất tiến triển một cách im lặng (trong hơn hai trường hợp trên ba, không có một triệu chứng nào ở phụ nữ) trước khi được phát hiện bởi một viêm vòi trứng (salpingite), có thai ngoài tử cung hay thường hơn là một tình trạng vô sinh (stérilité). Ngay cả đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên của vô sinh, vậy đó không phải là vô hại. Chúng tôi cũng nói với họ rằng sự phát hiện rất là đơn giản : mẫu nghiệm được lấy từ một écouvillon được đưa vào trong âm đạo của các cô gái và từ nước tiểu ở cậu con trai, và rằng trong trường hợp kết quả dương tính, một điều trị kháng sinh cho cả hai partenaire cho phép giải quyết vấn đề.”, BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.

UN DEPISTAGE PAS PRIS EN CHARGE A 100%

Những lý lẽ này đánh trúng hồng tâm : phần lớn các phụ nữ trẻ này chấp nhận điều tra phát hiện và chính như thế mà 7000 trường hợp mới những nhiễm trùng chlamydia được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp. “ Ta ước tính rằng 3% các phụ nữ trẻ từ 18 đến 25 bị nhiễm trùng, nhưng trong số những phụ nữ có nhiều bạn đường phối ngẫu, những tỷ lệ lây nhiễm có thể đạt 10% ”, GS Michel Kanier, giám đốc trung tâm lâm sàng và sinh học các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, bệnh viện Saint-Louis đã ghi nhận như vậy.

Chỉ có điều : “ Làm sao công tác phát hiện này lại không được đảm nhận 100% bởi Sécurité sociale, vài phụ nữ trẻ, có lẽ những phụ nữ cần nhất, không đủ điều kiện để tiếp cận sự phát hiện này. Để giải quyết vấn đề này, có những thỏa thuận địa phương với vài trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí (CDAG : centre de dépistage anonyme et gratuit) như những trung tâm ở Paris đảm trách miễn phí sự phát hiện chlamydia ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, nhưng không phải đều như thế ở khắp nơi trên nước Pháp. Khi đó còn lại giải pháp là đến một trung tâm thông tin, phát hiện, chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng lây bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles), nhưng những trung tâm như thế không có nhiều. Tuy vậy có một sự nhất trí rất rõ ràng về phía các chuyên gia : mọi người trong tình trạng hoạt động sinh dục (sexuellement active) đã không có được một sự bảo vệ tối ưu (nhờ đến các bao dương vật trong 100% các trường hợp) phải làm một trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage), nhất là khi có một sự thay đổi bạn đường phối ngẫu (partenaire). Điều này đủ bởi vì trái với các lậu cầu khuẩn và với tréponème (vecteur truyền bệnh giang mai), sự lan truyền chlamydia qua đường miệng rất hiếm ”, GS Michel Janier đã nhấn mạnh như vậy.

MỘT “ HOME TEST ” ĐẾN Ở PHÁP

Đối với những kẻ ưa thích những phát hiện “ ở nhà ” hơn, được cho là kín đáo hơn, tin vui : đó là một “ home test ” xuất hiện ở Pháp, như điều đã thường được thực hiện trong những nước khác của Liên hiệp châu Âu. Ưu điểm chính : không cần đến phòng xét nghiệm với một y lệnh. Bất tiện chính : trắc nghiệm này không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. Ngoài ra, trong trường hợp kết quả dương tính, dẫu sao cũng phải có một ordonnance để được kê đơn một điều trị kháng sinh, cho mình và cho partenaire, mặc dầu người bạn đường phối ngẫu này không có một triệu chứng nào và đã được làm một test với kết quả âm tính. Thật vậy, không gì nói được rằng người bạn đường phối ngẫu này không ở trong thời kỳ ủ bệnh và do đó anh ta sẽ không là nguồn lây nhiễm trong những này sau đó ”, GS Janier và BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.

Hiện nay điều trị chủ yếu dựa vào, đối với người đàn ông cũng như đối với người đàn bà, uống 1 liều duy nhất 4 viên azithromycine, một kháng sinh họ macrolides. Và các giao hợp phải bị cấm chỉ trong 1 tuần, thời gian để thuốc tác dụng. “ Điều đó rất thực tiễn, nhưng vài trường hợp đề kháng được quan sát trên thế giới làm cho các chuyên gia bắt đầu tự hỏi không biết có hợp lý trở lại một điều trị 7 ngày, bằng một kháng sinh thuộc họ cyclines hay không. Khi đó một vấn đề khác được đặt ra : vấn đề tuân thủ tồi điều trị. Như thế, 70% những người được điều trị trong 7 ngày thỉnh thoảng quên uống kháng sinh hay dừng quá sớm bởi vì họ không có (hay không còn nữa) các triệu chứng ”, GS Janier lấy làm tiếc như vậy.

Sau cùng thêm vào một vấn đề nữa : hoặc vì xấu hổ (không đúng) hay vì sợ gieo nghi ngờ vào lòng chung thủy của mình, rất nhiều người bị nhiễm thấy tốt hơn là không nói gì hết. Hậu quả : mặc dầu những chiến dịch thông tin, các con số nhiễm trùng bởi chlamydia vẫn ổn định.
(LE FIGARO 8/10/2012)

2/ CÁC LẬU CẦU KHUẨN NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG.

Đó là nhiễm trùng chủ yếu đang tăng cao ở những người đàn ông có những quan hệ tình dục với những người đàn ông cũng như ở những người dị tính luyến ái (hétérosexuel), lý do là một sự lơi lỏng trong việc nhờ đến một cách hệ thống những bao dương vật và do việc thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral). “ Thật vậy, lậu cầu khuẩn rất có thể tọa vị trong họng, nhưng không cho một triệu chứng nào, GS Michel Janier (bệnh viện Saint-Louis) đã nhấn mạnh như vậy. Và ngay cả trong trường hợp nhiễm trùng sinh dục, nó có thể tiến triển một cách im lặng trong một thời gian lâu ở phụ nữ, trước khi gây một tình trạng vô sinh (stérilité). Sau cùng chỉ ở người đàn ông mà nhiễm trùng khó mà không được nhận biết, vì lậu cầu gây nên sự xuất hiện triệu chứng đi tiểu rát và mủ niệu (do đó có tên “ đái nóng ” (chaude-pisse). Sự xuất hiện những trắc nghiệm chẩn đoán mới rất đáng tin cậy (những trắc nghiệm PCR dựa trên sinh học phân tử khuếch đại), cho phép tìm kiếm cùng lúc chlamydia và lậu cầu, vậy đó là một tin vui, nhưng hiện nay, những trắc nghiệm này chưa được công nhận bởi Sécurité sociale và do đó chỉ có thể thực hiện ở bệnh viện.”

Do không được phát hiện đủ, nhất là ở phụ nữ và ở những người thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral), lậu cầu khẩu phát triển tốt. Còn đáng lo ngại hơn : trong khi cho đến nay vi khuẩn này nhạy cảm 100% đối với ceftriaxone (Rocephine) (một kháng sinh thuộc céphalosoprine thế hệ thứ ba), nhiều trường hợp đề kháng đã được mô tả trên thế giới, gồm cả ở Pháp. “ Trong nhiều năm, một liều 125 mg là đủ để trừ khử các lậu cầu khuẩn, rồi đã phải chuyển qua 250 mg. Hôm nay, ngay cả cần đến 500mg và ở vài bệnh nhân điều đó không còn đủ nữa. Thế mà chúng ta không có giải pháp thay thế thỏa mãn. Thật vậy, đúng là có một kháng sinh cũ còn có thể có tác dụng (gentalline), nhưng loại thuốc này có tiềm năng độc hại đối với thận, tai và do đó khó sử dụng. Sau cùng hai loại kháng sinh khác đầy hứa hẹn hiện đang được chế tạo, nhưng chúng cũng sẽ phải được sử dụng một cách thận trọng và chỉ hiện diện dưới dạng thuốc tiêm ”, GS Janier đã xác nhận như vậy. Ý kiến này được chia xẻ bởi GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble. Ông này lo sợ tính chất đa đề kháng của các vi khuẩn đối với các kháng sinh và không chỉ trong lãnh vực các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.

ÍT SỬ DỤNG HƠN CÁC BAO DƯƠNG VẬT

Sau cùng, nhiều nhiễm trùng lậu cầu khuẩn hơn, điều này cho thấy trước sự gia tăng của sự lây truyền những bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục nghiêm trọng hơn như VIH hay viêm gan B, do việc lơi lỏng sử dụng các bao dương vật. “ Ở các phụ nữ đã gia tăng những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), chúng tôi không do dự đề nghị một điều tra phát hiện toàn bộ những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục chính, từ một mẫu nghiệm máu (đối với VIH, viêm gan B và giang mai), từ một bệnh phẩm âm đạo (chlamydia, lậu cầu) và từ một frottis nhằm tìm kiếm những dấu hiệu gián tiếp nhiễm trùng papillomavirus, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa thuộc bệnh viện mới Port-Royal (Paris), đã nhận xét như vậy. Chúng tôi cũng lợi dụng điều đó để nhắc lại với họ rằng préservatif nữ cũng hiệu quả như préservatif nam để phòng ngừa phần lớn những trường hợp nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.”

(LE FIGARO 8/10/2012)

3/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG NÀY LÀM DỄ BỆNH SIDA

Mỗi năm ở Pháp, 6700 người bị lây nhiễm bởi virus bệnh sida, thường nhất qua đường sinh dục. Những con số của bệnh ở Pháp vì gần như ổn định, nên điều đó có nghĩa là sự bảo vệ bằng các bao dương vật vẫn không đủ.

“ Sự kiện bệnh sida ngày nay được xem như một bệnh mãn tính, được điều trị, có lẽ đã góp phần đưa đến một sự lơi lỏng tinh thần cảnh giác. Tuy vậy phải nhận thức rõ ràng những điều trị này không phải là không có những tác dụng phụ và như thế thật là chán ngắt khi phải uống thuốc mỗi ngày. Cũng vậy, đúng là có một điều trị cấp cứu được đề nghị ở bệnh viện cho những người đã có một giao hợp có nguy cơ với một người huyết thanh dương tính, nhưng phải hành động nhanh và điều trị này không phải là vô hại, GS Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trung thuộc CHU de Grenoble, đã nhấn mạnh như vậy. Còn về những hứa hẹn vaccin, phải dè chừng những tác dụng loan báo : ta còn rất lâu mới đề nghị một cách thường quy một vaccin và sẽ còn cần nhiều năm trước khi đạt được điều đó ”, GS Stahl đã nói tiếp như vậy.

Nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida càng quan trọng khi bệnh nhân vốn đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác, như herpès sinh dục, than ôi lại khá thường gặp. Hai triệu người Pháp mang virus này, nguy cơ lây nhiễm đối với partenaire tối đa vào lúc một cơn bộc phát các mụn nước (vésicule). Đúng là có một điều trị kháng virus (aciclovir) được cho trong trường hợp các cơn bộc phát thường xuyên, nhưng không đủ để phòng ngừa nguy cơ truyền nhiễm. Do đó mang bao dương vật là điều không thể thay thế được.

Cũng như thế để tránh sự lây truyền của một bệnh viêm gan B, một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục khác được biết rõ là cũng làm dễ nhiễm trùng bởi HIV. Có nhiều bạn đường phối ngẫu hay là người nghiện ma túy là hai nguyên nhân chính gây nhiễm trùng bởi virus của viêm gan B. Vào giai đoạn viêm gan triệu chứng lây nhiễm, những điều trị với các antirétroviraux cho phép ngăn cản sự xuất hiện của một ung thư gan đối với bệnh nhân và làm giảm rất nhiều những nguy cơ lây nhiễm partenaire. Nhưng để tránh mọi nguy cơ, tốt nhất là được tiêm chủng, thế mà dân Pháp đã trì chậm rất nhiều trong lãnh vực này ”, BS Stahl đã nhấn mạnh như vậy. Một lý do tốt để nghĩ đến phát hiện bệnh : Nói chung sự phát hiện bệnh được đề nghị vào lúc mang thai hay lúc phẫu thuật.

NHỮNG THƯƠNG TỔN ĐÔI KHI GÂY CHẾT NGƯỜI.

Sau cùng, sự hiện diện của một bệnh lây nhiễm đường sinh dục nguồn gốc vi khuẩn cũng làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida. Vậy đó là trường hợp đối với chlamydia, lậu cầu khuẩn, nhưng cũng đối với bệnh giang mai mà ở Pháp không còn được nghe nói đến nữa cho đến những năm 2000, trước khi tái phát trở lại, nhất là trong giới đồng tính luyến ái. Khởi đầu bệnh giang mai có thể gây nên một chancre (vết loét) không đau, rồi vài tuần sau, nổi ban da và hội chứng cúm và, nếu không được điều trị kháng sinh, những thương tổn của não, các dây thần kinh, của tim, đôi khi gây chết người. Thế mà cũng giống như lậu cầu khuẩn, tréponème gây bệnh giang mai có thể sống sót trong họng mà không được nhận biết. Vậy về chiến lược phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, đất nước của chúng ta (Pháp) còn có nhiều điều để làm.
(LE FIGARO 8/10/2012)

5/ SIDA : TRIỄN VỌNG VACCIN MỚI

Ở khỉ, một vaccin bằng đường miệng trung hòa sự hoạt hóa của những tế bào bị nhiễm cần thiết cho sự tăng sinh của virus.

PANDEMIE. Một vaccin chống virus gây bệnh sida hoàn toàn mới đã được hiệu chính bởi một kíp Pháp-Hoa, được lãnh đạo bởi GS Jean-Marie, thuộc đại học Paris-Descartes, và Louis Wei Lu, giám đốc nghiên cứu thuộc Institut de recherche pour le développement (IRD), ở Montpellier. Được trắc nghiệm trên mô hình động vật tương cận với người nhất, macaque, sự tiêm chủng này đã bảo vệ lâu dài 14 động vật trên 16 chống lại một nhiễm trùng bởi virus gây suy giảm miễn dịch của khỉ, tương đương ở động vật này, của virus sida hay VIH ở người.

PHUƠNG PHÁP ĐỘC ĐÁO

“ Công trình này, Olivier Schwartz, giám đốc của khoa siêu vi trùng học của Viện Pasteur đã xác nhận như vậy, là lý thú và đầy hứa hẹn. Có nhiều thử nghiệm khác về các ứng viên vaccin ở khỉ, nhưng ở đây phương pháp là độc đáo ”. Thật vậy, vaccin này không cần phải tiêm và có thể được cho một cách trực tiếp bằng đường miệng. Một cách tóm tắt, vaccin này trung hòa sự hoạt hóa của các tế bào bị nhiễm, cần thiết cho sự tăng sinh của virus.

Từ khi virus của bệnh sida được nhận diện vào năm 1983 bởi một kíp nghiên cứu của Viện Pasteur, Paris, những cố gắng to lớn đã được dành cho việc nghiên cứu một vaccin chống lại virus này. Tuy vậy, sau 187 thử nghiệm lâm sàng các vaccins, hơn 8 tỷ dollars đã được tiêu phí cho nghiên cứu, chủ yếu bởi recherche publique Hoa Kỳ, sự thất bại là hoàn toàn. Chỉ có 3 thử nghiệm lâm sàng có tầm cỡ đã được tiến hành, thử nghiệm đầu tiên, được gọi là VAX 004, vào năm 1998, đã chẳng mang lại kết quả gì ; thử nghiệm thứ hai, được mệnh danh STEP, đã phải dừng lại sớm vì cùng lý do ; thử nghiệm cuối cùng, RV144, đã được thực hiện ở Thái lan, trên một số lượng khổng lồ 16.000 người tình nguyện, đã thu được một sự giảm 30% những nhiễm trùng mà ta chưa biết một cách chính xác tại sao. Hiện nay, chỉ một thử nghiệm thuộc loại này vẫn đang còn được tiến hành ở Hoa Kỳ.

Một cách nghịch lý, những lý do của sự thất bại này được biết từ khởi thủy bởi các nhà nghiên cứu. Virus của bệnh sida có những đặc điểm duy nhất làm chúng không thể bị túm được một khi đã vào trong cơ thể. Protéine, ở bề mặt của màng tế bào virus sida, cực kỳ thay đổi từ con virus này đến con khác, làm nhầm lẫn những toan tính nhận biết bởi hệ miễn dịch. Lại càng đáng sợ hơn, virus nhắm và phá hủy những tế bào chủ yếu đối với đáp ứng miễn dịch, các tế bào lympho T4, cho phép trừ khử virus. Những virus sida có một yếu điểm mà Jean-Marie Andrieu và đồng nghiệp của ông Louis Wei Lu đã lợi dụng. Để sinh sản, HIV phải chờ cho tế bào mà nó gây nhiễm tự hoạt hóa. “ Bằng cách làm cho cơ thể có khả năng làm bất hoạt những tế bào bị nhiễm của nó, chúng tôi giết trong trứng nước mọi sự tăng sinh của virus ”, GS Andrieu đã nói rõ như vậy.

Một sự bất hoạt như thế được gây nên bởi các vi khuẩn ruột. Những vi khuẩn này hẳn phải gây nên một sự dung nạp của cơ thể của chúng ta đối với chúng. Thí nghiệm đã có thể tiến hành trên khoảng 100 con khỉ nhờ sự hỗ trợ của Viên y học nhiệt đới của Canton (Trung Quốc). Thí nghiệm nhằm cho ruột của các con khỉ tiếp xúc với những nồng độ rất cao của một giống gốc vi khuẩn với sự hiện diện của virus bệnh sida được làm bất hoạt.

Hy vọng của các nhà nghiên cứu là gây nên một sự dung nạp của hệ miễn dịch, cũng sẽ bao gồm virus hiện diện. 3 tháng sau, khi 8 con khỉ, sau khi đã được tiêm chủng và được làm lây nhiễm bởi những liều mạnh virus, không con nào đã bị nhiễm siêu vi trùng, trái lại với những con khỉ không được tiêm chủng, tất cả đều bị nhiễm virus. Hơn 1 năm sau, khi 8 con khỉ một lần nữa bị làm lây nhiễm, 7 con không có một con virus nào trong máu cũng như trong niêm mạc của chúng. “ 3 năm sau, tất cả những con khỉ này vẫn luôn luôn không bị nhiễm virus và khỏe mạnh, Jean-Marie Andrieu đã xác nhận như vậy. Và con khỉ duy nhất bị nhiễm virus, là con khỉ, trong những trắc nghiệm của chúng tôi, đã không phát triển dung nạp ”.

Các nhà nghiên cứu ngay cả cho thấy trong Cell Reports rằng sự tiêm chủng này vẫn có hiệu quả đối với một giống gốc khác của virus, bằng cớ một hiệu quả trung hòa tổng quát hơn của những tế bào bị nhiễm bởi hệ miễn dịch.

CHUYỂN QUA NGƯỜI

Hai bằng sáng chế đã được trình tòa nhân danh IDR, thuộc đại học Paris-Descartes và công ty Biovaxim, được thành lập với sự hỗ trợ tài chánh của một bệnh nhân tỏ lòng biết ơn đối với GS Jean-Marie Andrieu. Giai đoạn kế tiếp, chuyển sang người, tuy nhiên sẽ dành những điều không chắc chắn bởi vì, theo GS Jean
Daniel Lelièvre, phụ trách chương trình lâm sàng tiêm chủng ở ANRS (cơ quan nghiên cứu về bệnh sida và những viêm gan siêu vi trùng,“ virus người thay đổi nhiều hơn virus ở khỉ và mặt khác, các con khỉ macaque thường đề kháng với nhiễm trùng hơn so với người ”.

Trên phương diện thực hành, ngược lại, thí nghiệm dường như có thể tiếp cận. Việc gây nên sự dung nạp với vi khuẩn Lactobacillus phantarum đã cho thấy tính vô hại của nó ở người. Sự hấp thụ bằng đường miệng VIH được làm bất hoạt, được trắc nghiệm một cách rộng rãi ở khỉ, dường như không có một nguy cơ nào, mặc dầu Chính phủ Hoa Kỳ đã chưa cho phép sử dụng như là một vaccin phòng ngừa ở người. Sau cùng, vaccin này cũng có thể dùng để điều trị ở những bệnh nhân huyết thanh dương tính, bằng cách phong bế ở những bệnh nhân này khả năng tăng sinh của virus trong các tế bào bị nhiễm, điều này mang lại một giải pháp thay thế cho liệu pháp chống virus hiện đang sử dụng. Những thử nghiệm theo chiều hướng này ở người, sẽ được bắt đầu ngay năm này trong một nước châu Âu, sẽ cho thấy một cách nhanh chóng là triễn vọng mới của vaccin có tương lai hay không.
(LE FIGARO 24/1/2013)

6/ SIDA : MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ MỚI

Những thử nghiệm lâm sàng của một vaccin chữa bệnh (vaccin curatif) mới sẽ bắt đầu ở Marseille trên 48 người tình nguyện huyết thanh dương tính. Vậy đó không phải là một vaccin ngăn cản mắc bệnh, mà là một loại thuốc có khả năng tăng cường phòng vệ miễn dịch. Mục tiêu là một protéine được gọi tên là Tat (thay thế cho chữ “ transactivating ). “ Ở những người huyết thanh dương tính, protéine này đóng vai trò garde du corps của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng, GS Erwann Loret, người khởi xướng thí nghiệm ở Hôpital de la Conception, đã giải thích như vậy. Cơ thể của những bệnh nhân này không có khả năng nhận biết nó cũng không có khả năng trung hòa nó, điều mà vaccin được thử nghiệm sẽ cho phép.”

48 bệnh nhân huyết thanh dương tính và hiện đang được điều trị bởi tam liệu pháp (trithérapie) sẽ tham gia vào công trình nghiên cứu. Những kết quả sơ khởi đầu tiên được dự kiến từ nay đến 5 tháng nữa. Chính nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra thận trọng. “ Đó không phải là hồi kết thúc của bệnh sida. Ngay cả đó không phải là khởi đầu của sự chấm dứt của bệnh sida.” Nhưng hôm qua, vài người đã loan báo “ première mondiale ”. Đúng như vậy về protéine này, nhưng rất quá đáng khi nói đến ý niệm “ vaccin chữa lành bệnh ” GS Jean-François Delfraissy, giám đốc cơ quan nghiên cứu Pháp về bệnh sida (ANRS), nói rằng “ từ 25 đến 26 công trình thử vaccin ” hiện đang được tiến hành trên thế giới. Vả lại những thử nghiệm trước đã chịu những thất bại quan trọng.

“ Phải thận trọng khi chúng ta đưa ra những thông điệp cho bệnh nhân ”, Jean François Delfraissy đã giải thích như vậy. Ông xác nhận rằng công cụ tiêm chủng chống lại HIV chưa hiện hữu mặc dầu đã nhiều năm nghiên cứu. Hiện nay, 40% những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên thế giới nhằm vào những vaccin điều trị chống bệnh sida, so với 60% những vaccin có mục đích phòng ngừa.

Một vaccin điều trị hiện được trắc nghiệm ở Viện y học nhiệt đới và ở bệnh viện đại học Anvers (Bỉ).
(LE SOIR 30/1/2013) 

Post a Comment