10/ HPV VACCINE MAY HELP TO PREVENT ANAL CANCER.
Thuốc chủng mới chống human papillomavirus,đã xuất hiện trên thị truờng mùa hè năm qua, có thể có tiềm năng ngăn ngừa hàng ngàn trường hợp ung thư cổ tử cung.Nhưng các BS hy vọng thuộc chủng cung sẽ có thể ngăn ngừa một bệnh ít được biết đến hơn nhưng có tiềm năng gây tử vong,xảy ra ở những người đồng tính luyến ái,đó là ung thư hậu môn.HPV cùng loại có thể gây nên cả hai loại ung thư(ung thư cổ tử cung và ung thu hau mon)
Mặc dầu ung thư hậu môn có thể xảy đến cho bất cứ ai;nhung thường xảy ra nhất trên những người có bệnh sử giao hợp bằng hậu môn.Tỷ lệ xảy ra hàng năm khoảng 35 trường hợp trên 100.000 người,có lẽ gấp hai lần tỷ lệ xảy ra trên những người bị nhiễm HIV,bệnh làm suy giảm hệ miễn dịch.
Năm vừa qua,Food and Drug Administration đã chấp thuận sử dụng thuốc chủng HPV được, dành cho các nữ giới tuổi từ 9 đến 26 tuổi sau khi các nghiên cứu đã chỉ rõ rằng thuốc chủng có hiệu quả lớn chống lại những nhiễm trùng gây nên bởi 4 trong số 12 loai HPV,bao gồm những loại là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung và hậu môn.
"Về mặt sinh học,cổ tử cung tương tự với hậu môn,vì thế có nhiều hy vọng rằng vaccin có hiệu quả với ung thư cổ tử cung cũng sẽ có hiệu quả đối với ung thư hậu môn".BS Joel Palefsky,một GS Y Khoa của Đaị Học California,San Francisco,đã phát biểu như thế.Nhưng ông lưu ý rằng,hiệu quả của vaccin đối với ung thư hậu môn vẫn cần phải được chứng minh.
Tỷ lệ ung thư hậu môn trên nhung người đồng tính luyến ái cũng tương tự với tỷ lệ của ung thư cổ tử cung,trước khi xuất hiện Pap smear,xét nghiệm cho phép phát hiện các bất thường tế bào tiền ung thư.Trong những năm gần đây,vài BS điều trị các bệnh nhân đồng tính luyến ái khuyên bệnh nhân của mình làm xét nghiệm Pap smears hậu môn,như là một bộ phận điều trị phòng ngừa thường lệ.
HPV là nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục thông thường nhất ở Hoa Kỳ,với 6,2 triệu người bị nhiễm trùng mỗi năm,theo thống kê của Centers for Disease Control and Prevention,mặc dầu ở nhiều người virus biến mất mà không có triệu chứng nào và cũng không biết là mình đã bị nhiễm bệnh.Và nhiều người đồng tình luyến ái không nhận thức rằng họ có một nguy cơ cao mắc bệnh ung thư hậu môn.
Các nhà điều phối ở Úc và Liên hiệp Châu Âu đã chấp thuận dung vaccin gọi là Gardasil và được bào chế bởi hãng Merck,cho các em trai tuổi từ 9 đến 15.Họ nêu lên các dữ kiện chứng tỏ rằng vaccin sinh ra một phản ứng miễn dịch ở các em trai này,mặc dầu tính hiệu quả đã không được chứng tỏ.
Cũng nhu đối với các thuốc cần toa bác sĩ,cac BS ở Hoa Kỳ có thể cho toa vaccin "không nhãn hiệu" (off label) cho bất cứ ai."Sự chấp thuận cần cho thương mãi hoá và phân phối thuốc,nhưng các thầy thuốc có thể sử dụng theo cách họ cảm thấy thích hợp".BS Jeffrey Klausner,Giám Đốc Phòng Ngừa Bệnh Nhiễm trùng bằng đường sinh dục,thuộc khoa y Tế công cộng,đã nói như vậy.
BS Eliav Barr,một giám đốc nghiên cứu lâm sàng của công ty dược phẩm Merck,nói rằng một số người đã nhận vaccin,nhưng công ty bị cản phân phối thuốc trừ phi Food and Drug Administartion chấp thuận cho sử dụng vaccin.Merck dang bảo trợ một thử nghiệm lâm sàng vaccin Gardasil trên 4000 đàn ông,trong đó có 500 người bị đồng tính luyến ái.Các kết quả đầu tiên được dự kiến vào cuối năm đến.
Việc tuyển mộ các người đồng tính luyến ái để thử nghiệm là một thách thức,các nhà nghiên cứu đã phát biểu như thế.Vaccin được sử dụng để ngăn ngừa một nhiễm trùng tiên khởi do virus,nhưng nhiều người trở nên bị nhiễm trùng chẳng bao lâu sau khi bắt đầu hoạt động sinh dục.Merck đã tuyển mộ các người bên nam giới ở lứa tuổi từ 16 đến 26 và những người này đã không có nhiều hơn năm người bạn đường phối ngẫu.
(INTERNAL HERALD TRIBUNE 1/2/2007)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 14 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (16/2/2007)
9/ TÁC DỤNG HIỆP ĐỒNG ÂM TÍNH
Bệnh SIDA và bệnh SỐT RÉT sống không hoà thuận với nhau. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ vừa chứng minh rằng có một tác dụng lẫn nhau giữa hai bệnh này nơi các người bệnh bị nhiễm đồng thời cả hai bệnh này. Các bệnh nhân bị nhiễm virus SIDA ,do sự suy giảm miễn dịch nên có nhiều nguy cơ hơn bị mắc bệnh sốt rét.Trái lại,các cơn sốt rét gây sự tăng sinh gấp mười lần lượng HIV trong máu ! Thế mà khả năng truyền bệnh SIDA tỷ lệ với nồng độ virus trong máu.
(LA RECHERCHE 2/2007)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 20 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (31/3/2007)
8/ CẮT BAO QUY ĐẦU LÀM GIA TĂNG NGUY CƠ NHIỄM TRÙNG ĐỐI VỚI PHỤ NỮ.
Người ta biết rằng cắt bao quy đầu(circoncision) có thể làm giảm 60% nguy cơ bị nhiễm siêu vi SIDA đối với nam giới. Ngược lại,theo các kết quả sơ khởi của một công trình nghiên cứu phối hợp của Hoa Ky và Ouganda,thì việc cắt bao quy đầu sẽ làm gia tăng ở các phụ nữ nguy cơ bị nhiễm HIV. Nếu các ông có huyết thanh dương tính(séropositif) đối với SIDA,không chịu kiêng cử mà lại giao hợp trong lúc sẹo giải phẫu đanh thành hình,thì các bà phối ngẫu sẽ có nguy cơ nhiều hơn bị gây nhiễm.Tuy nhiên,theo các chuyên gia,đây không phải là kết quả cuối cùng và các kết quả này rất có thể bị ảnh hưởng bởi những yếu tố như sự sử dụng biện pháp ngừa thai.
(METRO 29/3/2007)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 23 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (23/4/2007)
1/ TRÀ XANH BẢO VỆ CHỐNG BỆNH SIDA ?
Các nhà khoa học đã nhân diện một cấu chất trong trà xanh có khả năng đua tranh với siêu vi khuẩn HIV bằng cách ngăn cản tác dụng của siêu vi khuẩn này lên hệ miễn dịch.Chất cấu thành của trà xanh nêu trên là épigallocatéchine gallate (EGCG).EGCG đến tọa vị trước các thụ thể (récepteurs) CD4 của các T4 và như vậy ngăn cản virus HIV liên kết với hệ miễn dịch.Theo M.Willamson,sự việc uống trà xanh có thể làm giảm nguy cơ bị nhiễm trùng bởi HIV và giới hạn sự khuếch tán của siêu vi khuẩn.Tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho biết rằng nước trà xanh không phải là một điều trị chống bệnh Sida và dầu sao đó cũng không phải là một phương cách chắc chắn đề phòng ngừa nhiễm trùng HIV.
Đúng hơn nếu trà xanh kết hợp với các thuốc điều trị thường dùng có thể góp phần tạo cho các bệnh nhân có huyết thanh dương tính một cuộc sống có chất lượng hơn. Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng nghiên cứu của họ đang còn ở trong một giai đoạn rất sớm sủa: còn cần phải thực hiện các nghiên cứu trên động vật trước khi có thể rút ra những kết luận về một hiệu quả bảo vệ khả dĩ của trà xanh.Các nhà nghiên cứu cũng nhắc lại rằng các nghiên cứu chỉ quan tâm đến khả năng in vitro của một thành phần hóa học của trà xanh trong việc phong tỏa sự nối kết giữa HIV với những CD4 của người. Nhưng đã nhiều lần được chứng tỏ rằng các chất có khá năng in vitro ngăn cản một nhiễm trùng do HIV lại không có thể như vậy trong tình huống thực tế.
(LE JOURNAL DU MEDECIN 17/4/2007)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 25 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (6/5/2007)
7/ BỆNH LẬU VÀ UNG THƯ BÀNG QUANG
Bệnh lậu (gonococcie hay blennorragie), là một nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục, có tần số gây bệnh gia tăng từ vài năm nay, với số giống gốc (souches) lậu cậu đề kháng với kháng sinh gia tăng. Theo một công trình nghiên cứu trên 51.000 người đàn ông, nguy cơ bi ung thư bàng quang sẽ 2 lần cao hơn trong trường hợp có tiền sử bệnh lậu.
Phản ứng viêm tại chỗ và sự tồn lưu của cặn nước tiểu sau khi tiểu tiện giải thích sự liên kết giữa nhiễm trùng thường gây đau đớn này và nguy cơ xuất hiện u bàng quang.
(SCIENCES ET AVENIR 5/2007)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 60 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (21/1/2008)
2/ BỆNH GIANG MAI ĐƯỢC MANG ĐẾN CHÂU ÂU BỞI CHRISTOPHE COLOMB
Một công trình nghiên cứu về tiến triển di truyền của vi khuẩn gây bệnh giang mai đã công nhận là đúng giả thuyết về một tác nhân nhiễm khuẩn được mang từ Châu Mỹ về Châu Âu bởi đoàn thám hiểm của Christophe Colomb. Một nhóm nghiên cứu Hoa Kỳ, Anh và Canada đã công bố hôm thứ hai 14/1, trên site của tạp chí on-line PloS Neglected Tropical Diseases, một bài báo có khuynh hướng xác nhận rằng bệnh giang mai đã được mang vào châu Âu bởi Christophe Colomb, như thế chấm dứt một cuộc tranh cãi từ 500 năm nay về nguồn gốc của bệnh này. Các nhà di truyền học đã tái tạo cây phả hệ của những giống gốc vi khuẩn (souches bactériennes) nguồn gốc của bệnh giang mai.
Vào năm 1495, thành Naples thất thủ rơi vào tay của vua nước Pháp, Charles VIII, và của đạo quân chiếm đóng gồm những lính đánh thuế. Đạo quân này, được chỉ huy bởi Louis d’Orléans và hiệp sĩ Bayard, lúc đó đang là nạn nhân của một trận dịch kinh hoàng của một loại bệnh dịch hạch (peste) mới. Một căn bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục, được đặt tên là bệnh thành Naples (maladie de Naples). Đó là trận dịch giang mai đầu tiên ở châu Âu. Dịch bệnh lan tràn nhanh chóng qua trung gian của các lính đánh thuê trở lại quê nhà.
Sự việc bệnh giang mai xuất hiện một ít lâu sau khi Christophe Colomb và binh sĩ trở về từ Tân Thế Giới (chỉ 3 năm sau khi khám phá châu Mỹ), khiến người ta nghĩ rằng căn bệnh này xuất phát từ châu Mỹ và được mang về châu Âu từ Tân Thế Giới, bởi các thủy thủ phục vụ vua Tây Bạn Nha, vì lẽ những trường hợp bệnh giang mai đã được mô tả trong số các thủy thủ này.
Giả thuyết này, trước đây gây nhiều tranh cãi, ngày nay đã được xác nhận nhờ di truyền học (PloS Neglected Tropical Diseases, 15/1/2008). Các nhà nghiên cứu của Emory University (Atlanta,Georgie) đã so sánh các séquence của các bộ di truyền (génome) của các thành viên khác nhau của họ các tréponème, những vi khuẩn gây nhiều bệnh, trong đó có bệnh giang mai. Như thế, các nhà nghiên cứu đã có thể tái tạo cây phả hệ xác lập nguồn gốc châu Mỹ của bệnh giang mai (“grande vérole”).
MŨI TÊN TẨM THUỐC ĐỘC CỦA CUPIDON
Từ thời thượng cổ, các người Amérindiens đã bị một căn bệnh tương tự với bệnh giang mai. Và vài người trong các thành viên của đoàn thám hiểm của Colomb đã có những triệu chứng đặc hiệu, điển hình của bệnh nhiễm trùng này: các hạch sưng tấy lên, sốt tăng cao và “mũi tên tẩm thuốc độc của Cupidon” làm biến dạng thân thể. Một giả thuyết khác, nảy sinh vào thế kỷ XX, cho rằng người ta đã lẫn lộn bệnh giang mai với các bệnh khác, như bệnh hủi (lèpre). Đối với các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, sự việc không có các dấu vết thương tổn xương (đặc điểm của bệnh giang mai) trên các bộ xương của những người châu Âu và Bắc Phi trước cuối thế kỷ thứ XV, là chứng cớ xác nhận nguồn gốc châu Mỹ của căn bệnh này.
Trong cùng công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã tái tạo phả hệ của các tréponèmes khác gây bệnh chủ yếu ở trẻ em và được lan truyền bởi sự tiếp xúc qua da hoặc bằng nước miếng. Đó là các bệnh pian, bejel và pinta.
(LE FIGARO 15/1/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 65 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (22/2/2008)
6/ BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC LẠI BÙNG NỔ Ở PHÁP.
Việc gia tăng trở lại những nhiễm trùng bởi lậu cầu, bởi chlamydia và của bệnh giang mai là hậu quả của sự tái tục các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).
Chính sách ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng được lây truyền bằng đường sinh dục (MST : maladies sexuellement transmissibles) đang bị nguy ngập. Tất cả các yếu tố chỉ báo cho thấy có một sự gia tăng trở lại các bệnh nhiễm trùng (lậu cầu, chlamydia, giang mai), được lây truyền lúc giao hợp (dù cho đó là giao hợp đồng tính hay dị tính). Thật vậy, bảng thông báo dịch tễ hàng tuần của Viện theo dõi y tế đã công bố tuần này các con số xác nhận về sự gia tăng các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục ở Pháp. Ngoài các hậu quả về mặt y tế riêng cho các nhiễm trùng này (các bệnh mãn tính nơi người, nguy cơ vô sinh nơi phụ nữ), các dữ kiện này thể hiện sự tái tục những hành vi tính dục có nguy cơ, nói lên việc sử dụng phương tiện bảo vệ ít hơn và do đó mang lại một nguy cơ truyền virus bệnh Sida gia tăng.
Các nhiễm trùng do lậu cầu có đặc điểm là có một thời gian tiềm phục ngắn và cho những triệu chứng “ ồn ào ” nơi đàn ông. Do đó những nhiễm trùng này là một chứng tỏ rất rõ về các hành vi tính dục có nguy cơ (comportements sexuels à risques).
Một mạng lưới 200 phòng xét nghiệm phân tích mỗi năm số giống gốc các lậu cầu được phân lập. Suốt trong 3 năm qua, sự gia tăng số trường hợp xảy ra một cách thường xuyên, với 50% được thêm vào trong năm 2006 so sánh với năm 2005. Với một sự gia tăng rất rõ rệt nơi các phụ nữ (thêm 264%) và ở tỉnh (thêm 94%). Tuổi trung bình của các bệnh nhân này là 30 tuổi đối với đàn ông và 23 tuổi đối với phụ nữ. Sau cùng phải ghi nhận một sự tiến triển của các giống gốc đề kháng với ciprofloxacine, một trong những kháng sinh chuẩn trong điều trị bệnh này.
Nhiễm trùng do chlamydia trachomatis thường xảy ra nhất ở phụ nữ. Nhiễm trùng này chỉ gây ít triệu chứng nhưng nếu không được điều trị, có thể gây nên những thương tổn nơi các vòi trứng, nguyên nhân của vô sinh hoặc có thai ngoài tử cung. Từ đầu những năm 2000, một sự gia tăng các nhiễm trùng do chlamidia được quan sát ở Pháp, cũng như trong tất cả các nước công nghiệp hóa khác.Thí dụ ở Anh, sự gia tăng này có thể được quy cho công tác điều tra phát hiện được thực hiện một cách có hệ thống trong chiến dịch chống vô sinh nơi những người dưới 25 tuổi. Phải nhấn mạnh rằng ở Pháp, từ năm 2003 đến 2006, số các trường hợp nhiễm trùng do chlamydia đã gia tăng 55% nơi đàn ông và 62% nơi phụ nữ. Nhưng còn cần phải biết xem một sự gia tăng như thế là do sự tiến triển của bệnh hay chỉ do sự cải thiện của công tác điều tra phát hiện và của chẩn đoán.
ĐẨY MẠNH TRỞ LẠI CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA
Bệnh giang mai gần như đã biến mất ở nước Pháp trong những năm 1990 để rồi lại xuất hiện trở lại vào đầu những năm 2000, hầu như chỉ xảy ra ở những người đồng tính (homosexuel) hay lưỡng tính (bisexuel), đặc biệt là ở những người bị nhiễm đồng thời bởi virus sida. Mặc dầu những chiến dịch thông tin và phòng ngừa được phát động, bệnh có tiềm năng nghiêm trọng này vẫn không tỏ dấu hiệu lùi bước.Từ năm 2000 đến 2006, có 2.305 trường hợp giang mai đã được chẩn đoán ở Pháp. Sau một đợt giảm nhẹ vào năm 2005, số các trường hợp lại tăng lên năm 2006, đặc biệt là ở Ile-de-France và trong vùng Bắc Pas-de-Calais. Số các trường hợp giang mai bắt đầu xuất hiện ở những người dị tính (hétérosexuel) mà mãi đến nay phần lớn không bị nhiễm bệnh. Việc công bố những dữ kiện này hẳn phải khiến chính quyền cần phải phát động trở lại những chiến dịch phòng ngừa nhằm vào các hành vi tính dục có nguy cơ.
(LE FIGARO 6/2/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 66 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (29/2/2008)
1/ NHỮNG LỜI KHUYẾN NGHỊ CỦA THỤY SĨ VỀ BỆNH SIDA GÂY NÊN CUỘC TRANH CÃI
Các cặp ổn định, trong đó một trong hai người phối ngẫu có huyết thanh dương tính (séropositif), nhưng nhờ điều trị, không còn virus gây bệnh sida (VIH) có thể được phát hiện trong máu, như vậy họ có thể không cần đến các phương tiện phòng ngừa nữa hay không ? Vâng, các chuyên viên Thụy Sĩ của Uỷ Ban Liên bang về các vấn đề liên quan đến Sida (CFS) đã trả lời như vậy trong một văn kiện được công bố hôm thứ tư 30 tháng giêng. Một lập trường bị cho là còn quá sớm bởi Tổ Chức Y Tế Thế Giới (OMS) và Onusida hay ở Pháp bởi Hội đồng sida quốc gia.
Các chuyên gia Thụy Sĩ phát xuất từ một điều chứng nhận đã được nhất trí : từ năm 1996, việc áp dụng điều trị những phối hợp thuốc antirétroviraux không những đã biến đổi tiến triển của bệnh Sida nơi những người bị nhiễm trùng, mà còn làm giảm sự lan truyền của VIH. Nguy cơ lan truyền càng quan trọng khi số các bản sao (exemplaires) của virus trong máu (còn được gọi là charge virale) được tăng cao. Nếu được theo đuổi tốt, điều trị antirétroviral sẽ làm cho charge virale không thể phát hiện được trong máu (dưới 40 bản sao của VIH cho mỗi ml) máu. Trong trường hợp như thế, liệu những giao hợp có còn cần phải được bảo vệ nữa hay không?
Các chuyên gia Thụy Sĩ dựa trên 3 công trình nghiên cứu quy tụ tổng cộng 548 cặp dị tính (hétérosexuel), với huyết thanh dương tính nơi một trong hai người phối ngẫu. Các nghiên cứu không cho thấy một trường hợp truyền bệnh nào với một điều trị được theo đuổi tốt và một charge virale không thể phát hiện được trong máu. CFS kết luận rằng « sự áp dụng nhất quán một điều trị antirétroviral cho phép loại bỏ mọi nguy cơ lan truyền quan trọng ».
Ba điều kiện cần phải hội đủ để không khỏi phải dùng biện pháp bảo vệ lúc giao hợp: tuân thủ «sát» điều trị có bác sĩ gia đình theo dõi, một charge virale không thể phát hiện được trong máu từ ít nhất 6 tháng và người có huyết thanh dương tính không bị một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục nào khác. Do đó quyết định không dùng biện pháp phòng ngừa nữa là thuộc vào nguời có huyết thanh âm tính, ủy ban đã nói như vậy.
« VẪN LUÔN THẬN TRỌNG »
Trong một thông báo chung, Onusida và OMS nhắc lại rằng sự việc một charge virale không thể phát hiện được trong máu “ loại bỏ hoàn toàn nguy cơ truyền virus ” là điều không được chứng minh và nhấn mạnh tầm quan trọng của “ những phương pháp phòng ngừa có hiệu quả và đã được thử thách chống lại VIH”.
(LE MONDE 7/2/2008)
9/ THUỐC MỚI CHỐNG BỆNH SIDA
Raltégravir, chất ức chế intégrase, enzyme cần thiết cho qua trình tăng đôi (réplication) của virus bệnh Sida, vừa được cho phép bán trên thị trường ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Thuốc này ngăn cản virus tăng sinh trong các tế bào lành mạnh. Hiện nay thuốc được sử dụng bởi 7.600 người có huyết thanh dương tính (séropositif) trên thế giới, trong đó 1.300 ở Pháp. Thuốc được chỉ định trong các trường hợp đề kháng với một trong 3 thuốc được dùng trong trithérapie (điều trị chuẩn chống bệnh Sida).
(PARIS MATCH 20/2-27/2/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 77 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH ( )
5/ BỆNH SỐT RÉT, NGƯỜI BẠN ĐỒNG MINH TỐT NHẤT CỦA BỆNH SIDA
Ở phụ nữ có thai, nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng nguy cơ truyền virus bệnh sida vào phôi thai. Các nhà nghiên cứu Pháp và Cameroun vừa chứng tỏ một trong các cơ chế của hiện tượng này. Elisabeth Menu là nhà nghiên cứu nữ trong đơn vị điều hòa các bệnh nhiễm trùng bởi rétrovirus ở Viện Pasteur Paris và phụ trách nghiên cứu ở Inserm.
Hỏi : Làm sao bà đã quan tâm đến mối liên hệ giữa bệnh sốt rét và bệnh sida ?
Elisabeth Menu : Đó một quan sát khác thường được thực hiện ở Cameroun trong lúc tiến hành một công trình nghiên cứu về phòng ngừa sự truyền virus sida từ bà mẹ sang trẻ em vào lúc sinh. Chúng tôi đã chứng nhận rằng số các phụ nữ truyền virus sida cho đứa con là quan trọng hơn vào một vài mùa trong năm. Mặt khác, điểm cao của sự truyền này có cùng tính chu kỳ với các đỉnh cao của lượng nước mưa được đo, với một chênh lệch ba tháng. Như vậy, một cái gì đó, do mưa mang lại, đã làm gia tăng sự truyền HIV từ người mẹ sang đứa con. Chúng tôi đã nghĩ đến bệnh sốt rét. Mặt khác, nhiều công trình nghiên cứu đã xác lập rằng nhiễm trùng bởi ký sinh trùng sốt rét làm gia tăng lượng HIV trong máu của những người huyết thanh dương tính.
Hỏi : Hậu quả của mối tương tác giữa ký sinh trùng sốt rét và virus sida ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi đã chứng tỏ in vitro rằng ký sinh trùng sốt rét có thể làm phát khởi một sự tăng sinh mạnh mẽ virus sida trong các tế bào nhau (placenta).Thế mà sự việc có nhiều virus hơn trong nhau dẫn đến nguy cơ gia tăng nhiễm trùng thai nhi bởi virus.
Hỏi : Bà đã làm thế nào để chứng tỏ điều đó ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi đã làm nhiễm trùng in vitro các tế bào của nhau (các lá nuôi, trophoblastes) với virus sida. Rồi chúng tôi đã đặt các tế bào nhau bị nhiễm trùng này tiếp xúc với một protéine của ký sinh trùng sốt rét. Protéine này có thể được biểu hiện ở bề mặt của những hồng cầu bị nhiễm ký sinh trùng. Sau đó protéine này cho phép các hồng cầu bám vào các lá nuôi của nhau. In vitro, chúng tôi đã chứng tỏ rằng protéine của ký sinh trùng này, lúc liên kết với các lá nuôi bị nhiễm bởi virus sida, làm gia tăng sự tăng sinh của HIV trong các tế bào này.
Hỏi : Bằng cơ chế nào ?
Elisabeth Menu : Chúng tôi nghĩ rằng việc gắn protéine này của ký sinh trùng làm phát khởi sự sản xuất bởi các tế bào của nhau, một chất được gọi là TNF-alpha.Thật vậy, chúng tôi đã tìm thấy nhiều chất này chung quanh các tế bào của chúng tôi . Thế mà TNF-alpha được biết là làm gia tăng sự tăng sinh của virus sida.
Nguồn : LA RECHERCHE (5/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 78 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (17/5/2008
8/ CÁC GIÁO SƯ GALLO VA MONTAGNIER MONG MUỐN CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG BỆNH SIDA ĐƯỢC TĂNG CƯỜNG
Từ khi khám phá ra virus bệnh sida, cách nay 25 năm, căn bệnh này đã gây nên 25 triệu nạn nhân trên thế giới. Các Giáo sư Luc Montagnier và Robert Gallo, các nhà khám phá virus sida chỉ cách nhau vài tháng, hôm qua, vào lúc khai mạc của cuộc hội thảo ở Paris nhân lễ kỷ niệm năm thứ 25 của việc khám phá virus này, đã phàn nàn về sự chậm chạp của các tiến bộ trước trận dịch bệnh sida. Lễ kỹ niệm này không phải là một “lễ ca ngợi” (célébration) mà là một “lễ tưởng niệm” (commémoration), bởi vì virus vẫn luôn luôn còn đó, giáo sư người Pháp Luc Montagnier đã lấy làm tiếc khi phát biểu như vậy. Ông và nhóm nghiên cứu của ông của Viện Pasteur đã thực hiện những mô tả đầu tiên về virus sida trong tạp chí Science, ngày 20 tháng 5 năm 1983.
“Đúng ra tôi ước mong cử hành với qúy vị việc kết thúc bệnh Sida, hơn là lễ kỷ niệm lần thứ 25 khám phá virus này”, ông đã tuyên bố như vậy trước nhiều trăm chuyên gia họp ở Viện Pasteur. Nhà sinh học nổi tiếng sau đó truớc báo chí, đã lấy làm tiếc rằng “ sự việc không tiến triển nhanh hơn” và rằng các nhà nghiên cứu không có tinh thần “đổi mới hơn”. “Chúng tôi không thỏa mãn”, và hy vọng trong một thời gian không lâu nữa một vaccin điều trị nhằm phục hồi hệ miễn dịch sẽ được khám phá.
Giáo sư người Mỹ Robert Gallo, người đã xác nhận, cùng với nhóm nghiên cứu của ông thuộc National Cancer Institute để Bethesda, sự phân lập virus vào năm 1984, về phần mình, đã lấy làm tiếc cho các thử nghiệm quy mô lớn của vaccin. “Đã có những tiến bộ lớn, nhưng cũng có những sai lầm lớn, và còn có nhiều việc để làm”.
Cả hai cũng đã nhấn mạnh rằng các căng thẳng ngày xưa, và những tranh cãi quanh quyền tác giả của công cuộc khám phá virus bệnh sida là đã thuộc về dĩ vãng xa xăm. “Chúng tôi hiện nay là đồng nghiệp và là bạn”, BS Gallo đã đảm bảo như vậy, cho rằng “sự ganh đua dẫn đến sự sáng tạo”.
Bộ trưởng y tế Pháp, Roselyne Bachelot, về phần mình, đã lấy làm tiếc rằng “hôm nay, vào giờ phút trận dịch đã đốn ngã 25 triệu người, vẫn còn có bài diễn văn vạch mặt chỉ tên”
ƯU TIÊN LỚN
Theo bà bộ trưởng, công cuộc nghiên cứu bệnh sida “ mang những hy vọng lớn ” vẫn là “ ưu tiên lớn ” của Bộ y tế. Bà cũng đã ghi nhận rằng cần phải huy động để săn sóc bệnh nhân và bảo vệ những quyền lợi của họ. Về phần mình, Jean-François Delfraissy, giám đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu bệnh sida (ANRS) đã tiên đoán rằng căn bệnh này sẽ vẫn là trận dịch của thế kỷ XXI và ông đã lợi dụng lễ tưởng niệm này để kêu gọi chính quyền tiếp tục duy trì các kinh phí về nghiên cứu bệnh Sida.
Nguồn : LE FIGARO (20/5/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 81 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (13/6/2008)
8/ NĂM 2007 CÓ 3 TRIỆU NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ CHỐNG BỆNH SIDA TRONG THẾ GIỚI THỨ BA
Cuối năm 2007, trong các nước “có lợi tức thấp hoặc trung bình”, các bệnh nhân nhận được điều trị chống lại virus của sida (VIH) là gần 1 triệu trường hợp nhiều hơn vào cuối năm 2006, một bản báo cáo của OMS và của Onusida đã chỉ rõ như vậy. Điều này mang số bệnh nhân được điều trị lên khoảng 3 triệu, hoặc 7 lần nhiều hơn cách nay 4 năm. Mục tiêu của sáng kiến “ 3 triệu từ nay đến năm 2005 ”, nhằm vào các nước của thế giới thứ ba, đã đạt được nhưng với 2 năm bị chậm trễ.
Các cơ quan của Liên Hiệp Quốc nhấn mạnh sự gia tốc toàn bộ các mũi tiến, kể cả trong những lãnh vực phòng ngừa và phát hiện. “ Vào cuối năm 2007, người ta ước tính rằng 200.000 trẻ em theo một điều trị kháng rétroviral, so với 127.000 năm 2006 và 75.000 năm 2005 ”, văn kiện nói rõ như vậy. Vào năm 2007, 33% các phụ nữ có thai với huyết thanh dương tính đã nhận các antirétroviraux để ngăn ngừa sự lây truyền VIH cho các con của họ, so với 10% năm 2004. Số các phụ nữ có thai được xét nghiệm tìm VIH đã lên 18% trên thế giới, so với 16% năm 2006 và 10% năm 2005.
Năm 2007, với 2,5 triệu các lây nhiễm mới, tình hình còn lâu mới chế ngự được.
TĂNG CƯỜNG PHÒNG NGỪA.
Theo OMS và Onusida, “ chỉ 31% những người cần được điều trị trong các nước có lợi tức thấp hay trung bình, là được hưởng một điều trị như thế vào năm 2007 ” . Ngoài ra, đa số những người sống với VIH/sida mà không hay biết về tình trạng của họ và không tiếp cận với những dịch vụ phòng ngừa và điều trị.
Bảng báo cáo chủ trương tăng cường vai trò của lãnh vực y tế trong phòng ngừa VIH, bằng cách làm gia tốc “ sự thực thi những can thiệp đã có hiệu quả như cắt bao quy đầu, các chiến lược làm giảm các nguy cơ, sự sử dụng túi dương vật, sự phát hiện tìm VIH trong các sản phẩm máu và sự kết hợp vai trò phòng ngừa trong các chương trình có liên quan đến bệnh lao phổi, và đến sức khỏe bà mẹ và sinh sản ”. Về việc cắt bao quy đầu, một công trình được công bố ngày 2/ 6 , trong tạp chí Plos Medicine, thực hiện tại một quận ở Ouganda, chứng tỏ rằng việc cắt bao quy đầu không dẫn đến những biến chứng phụ trên những người có huyết thanh dương tính.
Nguồn : LE MONDE
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 86 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (1/8/2008)
2/ SIÊU VI TRÙNG BỆNH SIDA SẼ CÓ THỂ ĐƯỢC PHÁT HIỆN BẰNG MỘT TRẮC NGHIỆM NƯỚC BỌT ĐƠN GIẢN
Đặt một ít nước miếng lên một chiếc que nhỏ, rồi đưa vào trong một ống nghiệm, và chờ từ 20 đến 40 phút …Nếu người được trắc nghiệm mang HIV, một đường tím sẽ hiện ra trên đỉnh của chiếc que nhỏ này. Là một công cụ phát hiện nhanh chóng hơn nhiều so với một xét nghiệm lấy máu thông thường, OraQuick sử dụng các kháng thể để phát hiện sự hiện diện của virus HIV (immunochromatographie). Sự đánh giá được thực hiện ở Ấn Độ bởi các nhà khoa học (đại học McGill, Montréal), cho thấy một sự phù hợp 100% với các xét nghiệm máu.
Nguồn : SCIENCE ET VIE (7/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 89 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (16/08/2008)
7/ CÁC BỆNH NHÂN BỊ SIDA ĐÃ GIÀNH THÊM ĐƯỢC 13 NĂM TUỔI THỌ
Trong vòng 10 năm, nhờ phép trị liệu gồm 3 thứ thuốc (trithérapie), bệnh Sida trong các nước phát triển đã đi từ tình trạng bệnh chết người (maladie mortelle) sang thành bệnh lý mãn tính (pathologie chronique).
Trong các nước phát triển, hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm bởi siêu vi trùng sida, hay VIH, từ năm 1996, đã gia tăng 13,3 năm. Năm 1996 là năm các thầy thuốc đã bắt đầu kê toa những phối hợp antirétroviraux, được biết hơn dưới tên “trị liệu pháp gồm 3 thứ thuốc” (trithérapie). Trong một công trình nghiên cứu được xuất bản hôm qua bởi tạp chí Anh The Lancet, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế, trong đó có nhiều người Pháp, được lãnh đạo bởi Giáo Sư Robert Hogg của trung tâm nghiên cứu về bệnh Sida của Vancouver (Canada), đã so sánh các tỷ lệ tử vong của những người bệnh trong các thời kỳ 1996-1999, 2000-2002 và 2003-2005.
Theo sự đánh giá này (thu thập những kết quả của 14 công trình nghiên cứu, được thực hiện trên một tổng số 43.085 bệnh nhân sống ở Bắc Mỹ và châu Âu), tỷ lệ tử vong đã hạ gần 40%. Nhất là hy vọng sống toàn bộ (espérance de vie totale) của những bệnh nhân tuổi 20, được điều trị bằng ba thứ thuốc, đã từ 56,1 tuổi tăng lên 69,4 tuổi. Hoặc một sự gia tăng đáng kể 13 năm, từ năm 1996 đến 2005.
Theo The Lancet, những tiến bộ ly ky này là do liệu pháp 3 thứ thuốc (trithérapie), trong vòng chưa được 10 năm, đã trở nên “hiệu quả hơn, được dung nạp tốt hơn và dễ định liều lượng hơn”. Tuy nhiên các nhà nghiên cứu ghi nhận những chênh lệch quan trọng giữa vài nhóm bệnh nhân. Ví dụ, những người bị nhiễm bệnh sau khi chích thuốc ma túy có một hy vọng sống rõ rệt thấp hơn so với những người khác (52,6 tuổi so với 64,7 tuổi). Mức chênh lệch đạt đến 18 tuổi tùy theo các bệnh nhân đã được điều trị sớm hay chậm chống lại bệnh sida: 70,4 tuổi đối với những người được điều trị sớm, so với 52,4 tuổi đối với những người được điều trị muộn. Sau cùng, phụ nữ có một hy vọng sống hơi cao hơn đàn ông (64,2 đối với 62,8), sự khác nhau này có thể được giải thích là các phụ nữ thường bắt đầu điều trị sớm hơn.
“Điều tạo nên sức mạnh của các kết quả này, đó là do chúng thu được từ một số lượng rất lớn các bệnh nhân, giáo sư Jean-François Delfraissy, giảm đốc Cơ quan quốc gia nghiên cứu chống bệnh sida và các bệnh viêm gan (ANRS) đã nhấn mạnh như vậy. Công trình nghiên xác nhận một lần nữa rằng sida, khởi thủy là một bệnh gây chết người, nhờ liệu pháp 3 thứ thuốc, đã trở thành một bệnh mãn tính kéo dài”.
TIẾN HÀNH PHÁT HIỆN SỚM HƠN
Mặc dầu bảng tổng kê là đáng phấn khởi, nhưng còn nhiều chặn đường phải đi qua. “Hy vọng sống của những bệnh nhân bị sida vẫn dưới hy vọng sống của người dân nói chung”. Giáo sư Delfrassy đề nghị cứu chữa tình trạng này bằng một phát hiện sớm hơn VIH và phục hồi tỷ lệ các tế bào miễn dịch CD4+, là những mục tiêu chính của virus. “Ở Pháp, gần một nửa các bệnh nhân có tỷ lệ CD4+ thấp hơn bình thường. ANRS dang hiệu chính những phương thức mới kết hợp liệu pháp 3 thứ thuốc với những điều trị có khả năng khôi phục CD4+ để làm giảm thêm nữa và ngay cả loại bỏ tỷ lệ tử vong cao hơn (surmortalité) liên kết với bệnh sida”. Sau cùng, The Lancet chứng nhận rằng không có các dữ kiện đối với những bệnh nhân trên 30 tuổi, cũng như đối với các bệnh nhân của các nước nghèo. Trong các nước nghèo, sự xuất hiện mới đây của liệu pháp 3 thứ thuốc, hiệu quả hơn những liệu pháp cách nay 10 năm, hẳn mang lại được nhiều hơn hy vọng sống cho những người bị bệnh sida.
(LE FIGARO 26/7-27/7/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 91 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (4/9/2008)
7/ HỘI NGHỊ QUỐC TẾ VỀ SIDA NHẤN MẠNH VAI TRÒ CHỦ YẾU CỦA SỰ PHÒNG NGỪA.
Tháng 8 vừa qua, khoảng 23.000 người tập hợp ở Mexico để nghe kết quả của những nghiên cứu về HIV và về các điều trị chống sida. Gia tăng cố gắng để phòng ngừa và chống lại sự phân biệt (discrimination), nguyên nhân làm duy trì dịch bệnh, là hai đề tài mạnh của Hội nghị quốc tế về sida XVII, khai mạc hôm 3/8 ở Mexico.
Được công bố cách nay hai tuần, các con số mới nhất về tình trạng đại dịch do virus HIV, chứng tỏ số các trường hợp nhiễm trùng mới và tử vong năm 2007 đã giảm nhẹ, có thể cho cảm giác trấn an giả tạo. “Việc chấm dứt bệnh sida không ở trong tầm tay, Peter Piot, giám đốc ban chấp hành của Onusida đã cảnh cáo như vậy. Mỗi ngày có những người mới bị nhiễm trùng, gần 3 lần nhiều hơn là những bệnh nhân được điều trị bởi antirétroviral.
Vì vậy, Ban Ki-moon, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã biểu lộ sự lo lắng: “Hầu hết các nước vẫn còn nhiều việc phải làm để đạt mục tiêu mà họ đã đề ra cách nay 2 năm vào lúc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, đó là mục tiêu mọi người đều có thể tiếp cận được các phương tiện phòng ngừa, điều trị, săn sóc và hổ trợ chống lại HIV vào năm 2010. Do đó, họ sẽ có những khó khăn lớn trong việc đạt được mục tiêu của Thiên niên kỷ cho sự phát triển (Millénaire pour le développement), đó là ngăn chận và làm đảo ngược sự lan tràn của bệnh sida từ nay đến 2015”.
Những cố gắng nghiên cứu đã mở rộng số các loại thuốc chống HIV có sẵn để sử dụng và, nhất là , những cố gắng để thay đổi nấc thang trong sự tiếp cận các điều trị của những nước nghèo, đã cho phép vượt qua, mặc dầu với 2 năm chậm trễ, cái mốc 3 triệu người được điều trị với antirétroviraux trong những nước này. Peter Piot kêu gọi “một sự phòng ngừa phối hợp” (une prévention combinée). Trong một bối cảnh được đánh dấu bởi những thất bại mới đây trong thử nghiệm vaccin phòng ngừa và của những thử nghiệm mới với các chất diệt trùng, sự phòng ngừa kết hợp này nhằm kết hợp những dạng thức khác nhau : túi dương vật (préservatif), giảm số bạn đường phối ngẫu, cắt bao quy đầu ….
Trong phiên họp khoáng đại, cựu Bộ trưởng Y tế Mexico, Jaime Sepulveda, đã nhấn mạnh về sự phát triển những nghiên cứu khoa học nhằm đánh giá những loại phòng ngừa khác nhau : “Chúng ta có một tư tưởng tốt về điều trị cần phải có và về những bệnh nhân nào cần phải điều trị. Nhưng đây không phải là trường hợp đối với phòng ngừa ”.
Cuộc đấu tranh chống lại sự phân biệt (discrimination) là hệ luận của sự phòng ngừa. Như Ban Ki-moon đã giải thích, “ Trong những đất nước không có luật lệ để bảo vệ các gái mãi dâm, những người dùng ma túy và những người đồng tình luyến ái, chỉ có một bộ phận dân chúng là tiếp cận được với phòng ngừa ”. Ông Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc nói thêm: “Không bảo vệ những nhóm người này, đó không chỉ trái với đạo đức ; điều đó không có một ý nghĩa gì trên phương diện y tế.”
Vị tổng thống Mexico, Filipe Calderon, nhắc lại rằng phải “đương đầu không chỉ virus gây ra căn bệnh khủng khiếp này, mà còn các huyền thoại, các thành kiến, sự phân biệt, gây nên biết bao thiệt hại cho xã hội, cũng như chính virus vậy”.
(LE MONDE 6/8/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 96 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (10/10/2008)
2/ GIẢI THƯỞNG NOBEL DÀNH CHO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG LẠI VIRUS
Giải thưởng Nobel cho các nhà khám phá các siêu vi trùng gây bệnh sida và papillome người. Giải thưởng Nobel về y học năm 2008 đã được trao cho các người Pháp Luc Montagnier và Françoise Barré-Sinoussi của Viện Pasteur vì đã khám phá ra virus gây bệnh sida năm 1983 và cho người Đức Harald zur Hausen vì những công trình của ông về ung thư của cổ tử cung
Người ta đâu có nạp đơn ứng viên để xin được giải thưởng Nobel về y học. Chính vì thế Françoise Barré-Sinoussi, sau khi đã hay tin hôm sáng thứ hai rằng bà đã được giải thưởng Nobel về y học, trong khi bà đang làm việc trong văn phòng của viện Pasteur Phnom Penh, bà đã không thể che dấu được sự ngạc nhiên và xúc động. Bà chia sẻ giải thưởng này với Luc Montagnier (được biết nhiều hơn), vì đã có công khám phá ra virus gây bệnh sida vào năm 1983. Hai nhà nghiên cứu người Pháp chia nhau một nửa của giải 1,02 triệu euros. Harald zur Hausen nhận nửa kia của giải. Đây là lần đầu tiên các nhà nghiên cứu người Pháp nhận giải Nobel về y học từ năm 1980, là năm giải được trao cho giáo sư Jean Dausset. Việc trao giải thưởng này cho nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur, mà không có các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, cho phép kết thúc vĩnh viễn cuộc tranh cãi giữa Montagnier và Gallo. Hai nhà nghiên cứu này đã đấu tranh trong những năm dài, trước khi những công trình nghiên cứu trong việc khám phá virus gây bệnh sida của nhóm nghiên cứu người Pháp được công nhận là xảy ra trước nhóm nghiên cứu của Hoa Kỳ.
Ngày 20 tháng 5 năm 1983, trong một bài báo được công bố trong Science, một nhóm nghiên cứu của Viện Pasteur Paris, được điều khiển bởi giáo sư Luc Montagnier, đã mô tả một virus mới, bị nghi là nguyên nhân của hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (SIDA : syndrome d’immunodéficience acquise, hay AIDS : acquired immunodeficiency syndrome). Được phân lập từ một bệnh nhân với huyết thanh dương tính (séropositif), virus này đã được đặt tên là LAV vì siêu vi trùng này liên kết với bệnh hạch bạch huyết (lymphadénopathie). Công cuộc khám phá của Barré-Simoussi, 61 tuổi, và của giáo sư Luc Montagnier, 76 tuổi, “đã là thiết yếu cho sự thông hiểu hiện nay về sinh học và trị liệu kháng rétrovirus của bệnh này”, các chuyên gia của ủy ban Nobel đã ghi nhận như thế.
MỘT QUYỀN TÁC GIẢ ĐƯỢC CÔNG NHẬN
Quyền tác giả được công nhận là một quyết định dứt khoát trong mối tranh chấp giữa nhóm nghiên cứu của Montagnier với nhóm nghiên cứu của người Mỹ Gallo ; ông này được công nhận như là người cùng khám phá ra virus, nhưng ủy ban Nobel lại không nêu tên ông này trong bảng thông báo. Vào tháng 4 năm 1984, Gallo đã loan báo là đã phân lập được một virus giống với virus do Viện Pasteur khám phá. Sau khi những tài liệu nội bộ được tiết lộ, Gallo đã được công nhận, là có “cách cư xử khoa học xấu” .
“Người ta biết rằng đó là một khám phá quan trọng nhưng người ta đã không đo lường được quy mô của trận dịch như người ta biết hiện nay” , Françoise Barré-Sinoussi đã nhớ lại như thế. “Người ta đã không đo lường được tác động của trận dịch lên lục địa châu Phi. Vào thời kỳ đó, người ta nói về căn bệnh của những người đồng tính luyến ái, của những người bị bệnh ưa chảy máu (hémophiles), của những người nghiện ma túy và người ta chưa có ý niệm rằng đó là một bệnh được lây truyền bằng đường sinh dục (maladie sexuellement transmisible).”
Chúng ta hãy nhắc lại rằng tác nhân gây bệnh sida phá hủy vài bạch cầu, điều này khiến cho bệnh nhân dễ bị những nhiễm trùng được gọi là cơ hội (infections opportunistes) như lao, viêm phổi do pneumocystis carinii (pneumocytose), bệnh toxoplasma (toxoplasmose) hay một vài khối u ung thư (thường nhất là sarcome de Kaposi).
Được truyền bằng đường sinh dục, máu, hay từ mẹ sang con lúc thai nghén hay lúc cho bú sửa, virus sinh sản bằng cách sống ký sinh trên các lympho bào T4 hay CD4, của những bạch cầu đóng vai trò nhạc trưởng của hệ miễn dịch.
Sau quá trình tăng sinh, các virus mới phá hủy tế bào mà chúng làm tổ và đến gây nhiễm các tế bào khác. Sự phá hủy này gây nên một sự suy yếu của hệ miễn dịch. “ Tầm quan trọng của các công trình của Barré-Sinoussi và Montagnier phải được xét đến trong khung cảnh của trận dịch ảnh hưởng lên gần 1% dân số thế giới ”, ủy ban Nobel đã ghi nhận như thế. “Sự thành công của liệu pháp rétrovirus đã cho phép làm gia tăng hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm bởi HIV, ngày nay tương tự với hy vọng sống của những người lành mạnh”.
(LE SOIR 7/10/2008)
4/ SIDA ĐÃ XUẤT HIỆN NGAY THẾ KỶ THỨ XIX
Bệnh Sida xuất hiện 50 năm sớm hơn người ta tưởng và virus đã biến dị nhiều lần trước khi tăng sinh. Virus chịu trách nhiệm 95% những lây nhiễm hiện nay có thể đã chào đời giữa năm 1884 và 1924. Virus, nguyên nhân của trận đại dịch sida trên thế giới ngày nay, được khám phá năm 1981 và đã làm lây nhiễm 55 triệu người vào cuối năm 2007, đã đến từ đâu ? Một công trình nghiên cứu mới, được thực hiện bởi những nhà nghiên cứu Hoa Kỳ, Congo, Pháp và Bỉ và được công bố bởi tạp chí Nature, mang lại một ánh sáng mới về nguồn gốc của HIV
Mãi đến ngày nay, người ta nghĩ rằng HIV, siêu vi trùng gây suy giảm miễn dịch nơi người, đã xuất hiện vào khoảng năm 1930, ở châu Phi, do sự truyền giữa các loài (transmission interespèce) của một biến thể của virus dạng khỉ, từ con tinh tinh (chimpanzé) qua người, có thể xảy ra trong lúc săn bắn hay lúc ăn phải thịt bị nhiễm trùng. Một công trình nghiên cứu di truyền “ khảo cổ học ”, mà các kết quả được công bố trong tạp chí Nature, đặt thời điểm truyền bệnh này ít nhất nửa thế kỷ trước đó, hoặc một thế kỷ trước khi virus trở nên một vấn để y tế công cộng quan trọng, vào năm 1981, tức hai năm trước khi Montagnier và Gallo nhận diện được virus.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành như thế nào để đạt được kết luận này ? Họ đã phân tích một mẫu nghiệm virus HIV, trích từ một bệnh phẩm của hạch bạch huyết được bảo quản trong paraffine và rất mới đây vừa được làm cập nhật. Bệnh phẩm này, được bảo quản ở khoa cơ thể bệnh học của Đại học Kinshasa, rồi được chuyển về Đại học Arizona, vốn đã được lấy từ một phụ nữ 48 tuổi ở Kinshasa vào năm 1960. Michael Worobey (đại học Tucson, Arizona) đã phân tích bệnh phẩm này và đã khám phá, trong một mẫu nghiệm sinh thiết của một hạch bạch huyết của người phụ nữ này, dấu vết của virus bệnh sida. Đó là các acide nucléique, hay nói một cách khác, là các mảnh của các gène của ADN, đã được bảo quản như thế trong 48 năm. Thế mà, mãi đến ngày nay, chỉ có một mẫu nghiệm duy nhất khác, có từ trước năm 1976, được khám phá vào năm 1959, cũng ở Kinshasa.
Các nhà nghiên cứu sau đó đã phân tích di truyền hai giống gốc 1959 và 1960 (ZR59 và DRC60), và đã so sánh chúng với một trăm mẫu nghiệm mới đây, để quan sát những biến dị đã xảy ra. Kết quả ? Sự so sánh cho thấy rằng hai virus đã rất khác nhau, khiến có thể suy đoán rằng tổ tiên chung của virus này đã xuất hiện sớm hơn nhiều điều mà người ta đã nghĩ trước đây.
ADN của virus HIV biến dị một triệu lần nhanh hơn ADN của một loài động vật, BS Paul Sharp đã ước tính như thế trong một bài báo của Nature. Trong vài thập niên, một số không phải là ít những biến dị của virus bệnh sida đã được quan sát.
Theo các nhà nghiên cứu, nếu người ta tính đến tốc độ biến dị của virus bệnh sida, thì tổ tiên nguồn gốc của trận đại dịch thế giới ngày nay, ắt hẳn phải cổ hơn nhiều.Trong lịch sử của trận dịch nơi người, tổ tiên virus của HIV là một virus của sự giảm miễn dịch của khỉ (SIV). Virus cổ đại này đã gây nhiễm tự nhiên các con tinh tinh ở vùng Trung và Tây phi.
Những nghiên cứu khảo cổ học về một virus có ích lợi gì? “ Như đối với virus cúm năm 1918, một sự hiểu biết sâu rộng hơn về tiến triển của virus và phương cách mà nó biến dị từ những trường hợp đầu tiên ở châu Phi, có thể cho một cái nhìn chính xác hơn về độc lực và về tiến triển của những giống gốc hiện nay. Điều này có thể cho những hướng để ngăn ngừa trận dịch”, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh như thế. 33 triệu người sống với virus HIV và 28 triệu người đã chết vì nó từ năm 1981.
(LE SOIR 3/10/2008)
(LE FIGARO 2/10/2008)
5/ NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CẮT BAO QUY ĐẤU CHỐNG SIDA
Vào lúc mà hiệu quả của sự cắt bao quy đầu như là phương tiện phòng ngừa đang gây tranh cãi, những dữ kiện mới trên hiện trường vừa được trình bày ở Hội Nghị Quốc tế về sida lần thứ XVII, diễn ra ở Mexico. Chúng ta hãy nhớ rằng 33 triệu người bị nhiễm trùng bởi VIH vào cuối năm 2007 .
Từ tháng 12/ 2006, người ta biết rằng sự cắt bao quy đầu nơi nam giới làm giảm 60%. các nguy cơ truyền VIH. Thật vậy bao quy đầu được cấu tạo bởi những tế bào đặc biệt rất dễ bị thương tổn bởi virus. Đó cũng là một vùng mảnh dẻ, nơi các thương tổn vi thể có thể xuất hiện lúc giao hợp. Sau cùng, môi trường nóng và ẩm của nó làm dễ sự tồn tại của VIH sau khi bị lây nhiễm. Do đó, cắt bỏ bao quy đầu làm giảm những cửa đi vào của virus. Da của dương vật cứng lại, trở nên một hàng rào chắn tốt hơn. Vấn đề duy nhất : cắt bao quy đầu làm giảm nguy cơ, nhưng không có tác dụng bảo vệ.
Làm sao tránh những cảm giác an toàn giả tạo và nhiều hành vì nguy cơ hơn?.Một công trình nghiên cứu của Pháp, của cơ quan nghiên cứu quốc gia về bệnh sida, thực hiện trên 1.201 người đàn ông và 1.399 phụ nữ của quận Orange Farm ở Nam Phi, cho thấy rằng 55% đàn ông đã tuyên bố là đã được cắt bao quy đầu nhưng thực ra không phải là như vậy. Sự không hiểu biết này tăng cường ý tưởng rằng, để được chấp nhận và có hiệu quả, sự cắt bao quy đầu phải được thực hiện miễn phí và kết hợp với một mức cao về thông tin.
(SCIENCES ET AVENIR 9/2008)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 234 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (11/7/2011)
1/ SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC.
Vài bệnh trong số những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục như bệnh lậu (blennorragie) hay chlamydiose có khuynh hướng gia tăng.
DEPISTAGE. “ Giữa năm 2008 và 2009, sự gia tăng các trường hợp bệnh lậu (gonocoocie) đã đạt đến 52% ở Pháp. Căn bệnh này không còn giới hạn vào các nhóm có nguy cơ nữa nhưng từ nay được quan sát trong toàn bộ dân chúng ” , BS Caroline Semaille, người phụ trách đơn vị VIH/IST/viêm gan B và C thuộc Viện quốc gia theo dõi y tế (INVS : Institut national de veille sanitaire), đã nhấn mạnh như vậy. Căn bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, gây nên bệnh lậu, có một thời gian tiềm phục rất ngắn và tỏ ra là một sentinelle thật sự đối với những hành vi có nguy cơ. Ngoài ra, những con số mới nhất mà IVNS nhận được vào năm 2009, cho thấy một sự gia tăng đáng kể các trường hợp nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia trachomatis, ảnh hưởng lên gần 10% các phụ nữ trẻ trong vài tỉnh.
Sau cùng, mặc dầu sự gia tăng trở lại của bệnh giang mai được quan sát từ năm 2000 (trong khi căn bệnh này vốn gần như đã biến mất trong những năm 1990), rốt cuộc dường như đã bị dập tắt, nhưng số các trường hợp giang mai tiềm tàng (syphilis latente), được phát hiện khi nó không gây nên những triệu chứng rõ rệt nữa, từ nay chiếm 35% những trường hợp được phát hiện.
“ Dầu sao cũng cần phải nhắc lại rằng, ta ở xa các con số của những năm 1980 và đó không phải là một sự bùng nổ của các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, GS Michel Janier, chủ tịch section MST thuộc Hiệp hội khoa Da Pháp, đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên điều này đặt ra vấn đề về tính hiệu quả của những biện pháp được thiết đặt nhằm ngăn ngừa chúng.”
Mặc dầu khó xác định đâu là nguyên nhân chính xác của những gia tăng này, hai yếu tố dường như đóng một vai trò. VIH đã cho phép tầm thường hóa việc sử dụng bao dương vật, dẫn đến một sự sụt giảm đột ngột các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục vào cuối những năm 1980, nhưng không đủ để ngăn ngừa những nhiễm trùng khác có những cách truyền bệnh khác nhau. Fellation, được thực hiện thường nhất không cần đến bao dương vật, như thế cho phép sự lan truyền của nhiều mầm bệnh. Do đó sự biến đổi của những hành vi tình dục đóng một vai trò quan trọng.
Ngoài ra, mặc dầu vài bệnh nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục được phát hiện nhờ những dấu hiệu hiển nhiên như các dịch chảy bất thường ở dương vật, các triệu chứng rát lúc tiểu tiện, các khí hư âm đạo hay sự xuất hiện của những thương tổn khu trú, dầu vậy những thương tổn này thường im lặng không gây triệu chứng. Do đó nhiều người mang bệnh mà không biết, với những hậu quả quan trọng vì lẽ các bệnh lậu hay các bệnh do Chlamydia có thể dẫn đến có thai ngoài tử cung hay vô sinh nơi phụ nữ hay dẫn đến viêm nghiêm trọng của tuyến tiền liệt, của các tinh hoàn và mào tinh hoàn ở đàn ông.
“ Sự điều tra phát hiện là công cụ đấu tranh hiệu quả nhất để nhận diện chúng và điều trị chúng sớm, BS Semaille đã nhắc lại như vậy. Đó là tránh những biến chứng đối với bệnh nhân nhưng cũng để phòng ngừa những lây nhiễm mới, nhất là các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục lại làm dễ sự lây nhiễm bởi VIH. ”
Sau một giao hợp với một bạn đường phối ngẫu mới hay khi mới đây ta đã có nhiều bạn đường tình dục, điều quan trọng là thực hiện một phát hiện bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, mỗi năm lập lại một lần nếu tình trạng nguy cơ kéo dài. Chỉ có sự phát hiện bệnh giang mai là cần phải lấy máu mặc đầu không có những thương tổn có thể thấy được, còn những bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác được phát hiện nhờ một phân tích nước tiểu hay lấy một bệnh phẩm tại chỗ.
Sự xuất hiện những xét nghiệm nhanh hẳn còn làm dễ hơn việc điều trị các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. “ Trong 5 năm nữa, việc xử trí điều trị các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục sẽ hoàn toàn khác. Đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự bởi vì, trong vòng một giờ, ta sẽ có thể có sự phát hiện, kết quả và điều trị ”, BS Chantal Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục-ung thư[*] chủng ngừa đã chỉ rõ như vậy.
Những traitement “ minute ”, dùng một liều cao duy nhất kháng sinh đã được khuyến nghị. Chúng cho phép tránh những điều trị lâu dài làm dễ sự xuất hiện các đề kháng đối với kháng sinh. Thí dụ các lậu cầu đã trở nên đề kháng với nhiều kháng sinh và từ nay điều trị phải là một mũi tiêm mông duy nhất 500 mg ceftriaxone.
Đối với những nhiễm trùng nguồn gốc virus (papillomavirus, herpès, viêm gan) không có điều trị có khả năng triệt trừ các virus, nhưng có một vaccin chống lại papillomavirus và các viêm gan A và B. “ Tiêm chủng là công cụ duy nhất hoàn toàn có hiệu quả. Tiếc thay việc tiêm chủng không được thực hiện rộng rãi nơi các người trẻ, là những đối tượng đặc biệt bị liên quan ”, BS Vernay-Vaidde đã nhắc lại như vậy. Sự tiêm chủng chống lại papillomavirus, hiện nay chỉ nhằm vào các phụ nữ trẻ, cũng có thể được đề nghị cho các người đàn ông.
(LE FIGARO 27/6/2011)
2/ “CHLAMYDIA ”, THẦM LẶNG NHƯNG CÓ MẶT
“ Các nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia đang gia tăng một cách hằng định. Trong Boucles-du-Rhône, chúng tôi đã quan sát, vào năm 2010, một tỷ lệ lưu hành 9,3% ở các phụ nữ trẻ từ 20 đến 25 tuổi ”, BS Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa bệnh lây truyền bằng đường sinh dục-ung thư-tiêm chủng, đã chỉ rõ như vậy. Sự gia tăng hiện nay của Chlamydiae trachomatis ảnh hưởng chủ yếu các phụ nữ trẻ tuổi sau thời kỳ thiếu niên, nhưng cũng gây bệnh cho các người đàn ông. Ở quy mô quốc gia, các con số đạt đến 3,2% đối với các phụ nữ và 2,5% đối với những người đàn ông giữa 18 và 29 tuổi. Phần lớn nhưng nhiễm trùng đo Chlamydia vẫn thầm lặng không triệu chứng (giữa 60 và 70%) và thường được phát hiện lúc tìm kiếm một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác hay nhân một thăm khám thường quy. Sự gia tăng được quan sát như thế có thể là hậu quả của một công tác điều tra phát hiện tốt hơn, được làm dễ bởi những xét nghiệm nhanh hơn và dễ đề nghị hơn. Theo INVS, số các trường hợp chẩn đoán đã gia tăng 19% ở đàn ông và 25% ở phụ nữ giữa năm 2008 và 2009.
“ Đó là căn bệnh của tất cả mọi người, không có nhóm người nào nguy cơ hơn một nhóm khác, BS Chantal Vernay-Vaisse đã cảnh cáo như vậy. Do đó chúng tôi đề nghị phát hiện một cách hệ thống cho tất cả các phụ nữ dưới 30 tuổi vì lẽ có một nguy cơ bị vô sinh.” Thật vậy, trong hầu hết các trường hợp, các bệnh gây nên bởi chlamydia vẫn không có triệu chứng nhưng những hậu quả về lâu về dài của chúng có thể rất là nghiêm trọng. Các bệnh do chlamydia có thể là nguyên nhân dẫn đầu gây nên có thai ngoài tử cung nơi 2% các phụ nữ bị nhiễm trùng và là nguyên nhân gây vô sinh do tắc vòi trứng đối với 3% trong số những phụ nữ này. Ở người đàn ông, trong 5% các trường hợp, nhiễm trùng gây nên bởi chlamydia có thể dẫn đến viêm các tinh hoàn hay mào tinh hoàn. Sự phát hiện bằng PCR, được thực hiện với bệnh phẩm là tia phóng nước tiểu đầu tiên ở đàn ông và bằng một autoprélèvement par écouvillon nơi phụ nữ, từ nay được làm dễ bởi vì nó cho phép một phát hiện rất sớm, không phải chờ đợi những thương tổn vòi trứng được phát hiện nhờ những phân tích máu. “ Sự dễ dàng trong việc sử dụng có thể cho phép một sự điều tra phát hiện đại trà, kể cả bởi những người không thuộc ngành y tế ”, GS Michel Janier, chủ tịch của section MST của hiệp hội khoa da của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Việc điều trị cũng rất đơn giản và nhanh chóng : 1g azithromycine bằng một liều duy nhất.
Cũng như các bệnh gây nên bởi chlamydia, nhiều bệnh lây truyền bằng đường sinh dục có thể vẫn không gây triệu chứng và, chừng nào chẩn đoán không được xác lập và điều trị không được thực hiện, những người bị nhiễm trùng có thể tiếp tục truyền bệnh. Vậy điều thiết yếu là có khả năng nhận diện những bạn đường phối ngẫu ngay khi chẩn đoán được xác nhận, để phòng ngừa chúng và cho phép những người này tự điều trị lấy mình.
“ Vì ta đụng đến vấn đề tình dục, nên điều quan trọng là phải dùng thời gian để thảo luận với bệnh nhân, gây nơi họ lòng tin cậy và tránh mọi phán đoán để các thông tin thu được đúng là tương ứng với thực tế ”, BS Annie Vermersch-Langlin, trưởng khoa da liễu của bệnh viện Valenciennes đã đánh giá như vậy. Tính hiệu quả lớn nhất của chẩn đoán các bệnh gây nên bởi chlamydia có thể chỉ rõ rằng từ nay sự đối thoại được cởi mở hơn.
(LE FIGARO 27/6/2011)
3/ “ CHLAMYDIA ” VÀ THAI NGHÉN, CẶP ĐÔI NGUY CƠ
Vi khuẩn Chlamydia trachomatis là một nguyên nhân thường thấy của bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, nhất là ở phụ nữ. Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ sinh non gây nên bởi nhiễm trùng do chlamydia này trong lúc thai nghén nhưng các kết quả không hòa hợp. Theo một điều tra mới đây và quy mô lớn, các bệnh gây nên bởi Chlamydia (chlamydiose) có thể có một vai trò quan trọng trong nguy cơ sinh non. Hơn 4000 phụ nữ có thai đã tham dự vào sự theo dõi này bằng bảng câu hỏi với lấy mẫu nghiệm nước tiểu và tìm kiếm C.trachomatis bằng sinh học phân tử (PCR). Toàn bộ, nhiễm trùng đã được tìm thấy ở 4% các phụ nữ. Mặc dầu có tính đến những yếu tố làm gia trọng khác (tuổi dưới 21, nhiều bạn đường phối ngẫu), nguy cơ sinh non, hoặc sinh con từ 35 tuần thai nghén, được nhân lên gấp đôi trong trường hợp nhiễm trùng do chlamydia. Vì vậy, một sự điều tra phát hiện tốt hơn các phụ nữ nguy cơ và sự kê đơn một thuốc kháng sinh thích hợp trong thời kỳ thai nghén sẽ cho phép làm giảm nguy cơ này.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 237 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (1/8/2011)
5/ SIDA : NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA MỚI.
Một hội nghị quốc tế đã xác nhận lợi ích của việc cắt bao quy đầu (circoncision) và ảnh hưởng của những điều trị kháng virus (traitements antiviraux) trong phòng ngừa.
EPIDEMIE. Hội nghị khoa học quốc tế về sida, đã quy tụ hơn 6000 chuyên gia, đã bế mạc hôm chiều thứ tư ở Rome và đã xác nhận những hướng mới để kiểm soát một dịch bệnh ảnh hưởng lên 33 triệu người. “ Trong những tháng qua, những khám phá về những tác dụng của điều trị trong sự truyền của virus có những ý nghĩa đáng kể, giáo sư Michel Kazatchkine, tổng giám đốc của Quỹ thế giới chống bệnh sida, sốt rét và bệnh lao đã giải thích như vậy. Như Pasteur đã từng nói, khi ta giảm bể chứa virus, sẽ có ít sự lây truyền hơn. Do đó sự phổ cập điều trị cho bệnh nhân là lựa chọn kinh tế hợp lý nhất. Ngày xưa có một biên giới thật sự giữa điều trị và lan truyền. Ngày nay điều đó không còn lý do để tồn tại ”. Trong khi sự phòng ngừa bằng bao dương vật (préservatif) trên bình diện cá nhân vẫn là chiến lược căn bản trong những nhóm người có nguy cơ, nhiều công trình nghiên cứu, được trình bày ở Rome, đã phát hiện những chiếc lược mới hay đã xác nhận chúng.
33 TRIỆU NGƯỜI BỊ NHIỄM BỞI VIRUS.
Như thế ý tưởng điều trị bằng những thuốc kháng virus (antiviraux) những người có nguy cơ để tránh sự lây nhiễm bắt đầu đạt đến đích. Một điều trị được tiến hành từ 7 /2007 đến tháng 12/2009 trong 6 nước, được thực hiện trên 2499 người từ 18 đến 65 tuổi, không bị nhiễm bởi virus sida, sử dụng hoặc Truvada, một phối hợp các thuốc kháng virus, hoặc một placebo. Đó là những người đồng tính luyến ái huyết thanh âm tính sống với một partenaire huyết thanh dương tính. Các kết quả được trình bày ở Rome cho thấy rằng những người được điều trị tích cực bằng những thuốc kháng virus có một nguy cơ mắc phải virus sida giảm 92%. Những công trình nghiên cứu khác đã xác nhận hiệu quả phòng ngừa của một điều trị phòng ngừa ở những người huyết thanh âm tính nhưng có nguy cơ. “ Chúng ta còn trong lãnh vực nghiên cứu, giáo sư Jean-François Delfraissy, tổng giám đốc của Cơ quan nghiên cứu về bệnh sida (ANRS) đã xác nhận như vậy. Những biện pháp phòng ngừa khác chủ yếu không được bỏ qua bên. Mặt khác, ý tưởng cho các loại thuốc kháng virus để phòng ngừa dấy lên nhiều vấn đề, nhất là xã hội.”
Chủ đề lớn khác được đề cập ở Rome là vai trò của cắt bao quy đầu trong đấu tranh chống lại sida. Lần đầu tiên, một nghiên cứu-hành động (recherche-action), nhằm áp dụng những kết quả của nghiên cứu trong “ đời sống thật sự ”, đã cho thấy rằng việc cắt bao quy đầu cho phép hạ tỷ lệ nguy cơ bị nhiễm bởi virus sida 76% ở những người đàn ông. Công trình nghiên cứu này của ANRS, được tiến hành bởi Bertran Auvert, thuộc Inserm, đã được thực hiện trong bidonvile d’Orange Farm, trong ngoại ô của Johannesburg, ở đây nhiễm trùng đã đạt những mức đặc biệt cao : ở tuổi 35-39, 40% những người đàn ông không được cắt bao quy đầu bị nhiễm bởi VIH, và 45% các phụ nữ. Sau một chiến dịch cổ động tích cực, hơn 20.000 người đàn ông đã đến để được cắt bao quy đầu trong những trụ sở được thiết lập dành cho nghiên cứu. Trên một mẫu được trắc nghiệm gồm 1000 người, một nửa được cắt bao quy đầu, còn nửa kia thì không, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng với cùng hành vi sinh dục (comportement sexuel) (sử dụng các bao dương vật, các partenaire), trong nhóm được cắt bao quy đầu tỷ lệ bị nhiễm trùng ít hơn 76%. “ Nếu trong cộng đồng này, trong thời kỳ đó, nếu không một người đàn ông nào đã được cắt bao quy đầu, tỷ lệ (số những trường hợp mới) của nhiễm trùng đối với VIH là 58% cao hơn ”, giáo sư Auvert đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên, đó là một chiến lược được thêm vào, phải được phối hợp với những biện pháp phòng ngừa khác và không nhất thiết thích ứng với những nước giàu, theo các nhà nghiên cứu.
Cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida luôn luôn cần đến tài trợ : chỉ 6,6 triệu người được hưởng một điều trị trên thế giới, trong khi 15 triệu hết sức cần được điều trị trên 33 triệu người bị lây nhiễm.
(LE FIGARO 22/7/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 244 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (10/10/2011)
5/ BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ MỘT BIOPUCE !
Phát hiện bệnh sida và khoảng một chục bệnh nhiễm trùng khác trong vòng chỉ 20 phút và từ một giọt máu đơn giản ? Đó là điều được hứa hẹn bởi“ mChiap ”, một trắc nghiệm máu được sáng chế bởi Samuel Sia, giáo sư của Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Với kích thước của một carte de crédit, phòng xét nghiệm bé xíu có thể mang theo này phát hiện những protéine đặc trưng của các bệnh khác nhau qua những phản ứng hóa học trên những nanoparticule bằng vàng và bằng bạc. Một carte chứa nhiều puce và do đó có khả năng phân tích máu của nhiều bệnh nhân. Mặt khác, mỗi puce có thể phát hiện đồng thời nhiều loại nhiễm trùng khác nhau.“ Thiết bị được thiết kế để cho, trên cùng một carte, mỗi trắc nghiệm mang tính chất độc lập và không ảnh hưởng kết quả của những trắc nghiệm khác ”, Vincent Linder, một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Được trắc nghiệm trên nhiều trăm bệnh nhân ở Rwanda, “ mchip” cho những kết quả, dương tính hoặc âm tính, với một mức độ chính xác gần 100% đối với những nhiễm trùng do HIV và giang mai. Ưu điểm sau cùng : giá cả của nó. Tiềm năng có thể thương mãi hóa với giá từ 1 đến 3 dollar mỗi đơn vị, biopuce này mở ra những triển vọng chưa từng có trong công tác điều tra phát hiện đại trà trong những nước đang phát triển. Giai đoạn kế tiếp từ nay là thích ứng trắc nghiệm với virus của viêm gan B.
(SCIENCE ET VIE 10/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 252 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/12/2011)
10/ SIDA : PHUƠNG PHÁP MỚI ĐỂ LÀM GIẢM NHẸ NHỮNG BÓ BUỘC CỦA TAM LIỆU PHÁP.
BS Jacques Leibowitch, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, giảng viên tại bệnh viện Raymond-Poincarré de Garches, tác giả của “ Pour en finir avec le sida ”, édition Plon.
Hỏi : Ngày nay ở Pháp, tần số của những người bị nhiễm bởi virus bệnh sida là gì ?
BS Jacques Leibowitch: 100.000 bệnh nhân đang được điều trị. Theo Viện theo dõi y tế, 7.000 đến 8.000 người bị nhiễm mỗi năm bởi virus HIV. Nhưng nhiều người khác, bị lây nhiễm mà không biết, tiếp tục truyền virus.
Hỏi : Những kết quả của tam liệu pháp (trithérapie) hiện nay đến đâu rồi ?
BS Jacques Leibowitch: Có nhiều phối hợp các thuốc chống virus (với 31 loại thuốc), mà ta có thể kê đơn thích ứng với mỗi cá thể, tùy theo những kết quả có được và mức độ dung nạp của mỗi người. Nhưng những điều trị này, mặc dầu chúng ngăn cản sự xuất hiện bệnh bằng cách phong bế virus, lại không giết chết nó. VIH, mặc dầu trở nên không thể phát hiện với điều trị, nhưng hoạt động trở lại ngay khi ngừng tam liệu pháp (trithérapie).Tùy theo trường hợp và tuổi tác, những người huyết thanh dương tính có được sự thuyên giảm nhiều chục năm.
Hỏi : Những tác dụng phụ nào đã khiến ông muốn cải thiện sự thoải mái của những bệnh nhân được điều trị tam liệu pháp.
BS Jacques Leibowitch : Việc phải theo đuổi điều trị hàng ngày và suốt đời, mà sự ngừng thuốc là một mối đe dọa khủng khiếp, tạo nên một gánh nặng về tâm lý. Vài bệnh nhân bảo là họ cảm thấy bị gò bó như thể bị cầm tù với lưỡi gươm Damoclès treo lơ lửng trên đầu. Protocole dùng thuốc mới ngày này cũng bao gồm những nguy cơ tuân thủ điều trị kém trong trường hợp có những biến cố làm đảo lộn cuộc sống (tang chế, mất việc, ly dị). Mặt khác, sự tích tụ lâu dài các loại thuốc tạo nên những nguy cơ bị các biến chứng mặc dầu chúng hiếm xảy ra : những vấn đề tim mạch, suy thận
Hỏi : Quan niệm về phương pháp mới của ông là gì ?
BS Jacques Leibowitch : Mục đích là làm giảm những bó buộc và những nguy cơ, đồng thời bảo tồn tính hiệu quả của tam liệu pháp hiện nay. Ta đã có thể quan sát thấy rằng virus, một khi không thể phát hiện được sau một năm điều trị cổ điển, cần nhiều ngày để tái hoạt động và tăng sinh. Kíp của chúng tôi căn cứ trên thời gian tiềm tàng này để cho cách quãng những lần uống thuốc, mỗi lần với cùng liều lượng và cùng loại thuốc.
Hỏi : Những thử nghiệm nào đã được thực hiện với protocole này ?
BS Jacques Leibowitch : Từ năm 2003, 70 bệnh nhân đã thuận theo protocole này. Trước hết, tất cả đã được điều trị trong một năm với một liệu pháp quy ước, cho đến khi virus không thể phát hiện được. Sau đó số lần dùng thuốc đã được giảm dần, mỗi 6 tháng, với nhịp độ dùng thuốc một ngày mỗi tuần. Sự giảm được thực hiện vô cùng chậm và thận trọng, với sự theo dõi rất nghiêm túc. Hôm nay, 30 bệnh nhân chỉ dùng thuốc hai lần mỗi tuần nhưng không gây nên một sự tái hoạt động nào của virus. Chúng tôi thu được cùng những kết quả với protocole cổ điển 7 ngày mỗi tuần. Phải nhắc lại rằng chúng tôi vẫn luôn luôn trong một thời kỳ thử nghiệm, mặc dầu không được chính thức công nhận, nhưng được cho phép vì lý do nghĩa vụ luận y khoa.
Hỏi : Một tạp chí khoa học phải chăng đã trình bày những kết quả của ông
?
BS Jacques Leibowitch : Những kết quả này đã được công bố trong tạp chí quốc tế sinh-y học “ Faseb Journal ” (Federation of American Societies for Experimental Biology). Tôi cũng đã trình bày những quan sát dương tính này nhân Hội nghị quốc tế mới đây về Sida.
Hỏi : Tóm lại, những lợi ích của việc làm nhẹ điều trị (allégement thérapeutique) này là gì ?
BS Jacques Leibowitch : Lợi ích lớn nhất là tâm lý. Đối với những bệnh nhân đang được nghiên cứu của chúng tôi, sự thay đổi này được xem như là một hình thức giải phóng. Vài người bệnh nói rằng họ cảm thấy ít bị tù túng với căn bệnh của mình. Lợi điểm khác : một sự tuân thủ điều trị tốt hơn nhiều. Trên bình diện sinh lý, có thể chịu ít hơn nhiều những tác dụng của một “ tủ thuốc nặng nề.”. Thí dụ trong 10 năm, một bệnh nhân với điều trị hai ngày mỗi tuần sẽ nhận tương đương 7 năm rưỡi các loại thuốc ít hơn so với một bệnh nhân khác được điều trị với tam liệu pháp cổ điển.
Hỏi : Vì những thử nghiệm của ông vẫn luôn luôn không được hợp thức hóa, thế thì những hy vọng của ông nằm ở đâu ?
BS Jacques Leibowitch : Mục đích của kíp nghiên cứu chúng tôi là thuyết phục được các chuyên gia và các cơ sở y tế đến lược họ tiến hành những nghiên cứu về protocole mới này, nhưng lần này phải được hợp thức hóa.
(PARIS MATCH 1/12 – 7/12/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 256 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (23/1/2012)
5/ SIDA : THUỐC DÁN CHỐNG VIRUS (PATCH ANTIVIRAL)
Những điều trị chống virus bệnh Sida (VIH) có bất tiện là phải dùng thuốc viên : sự hấp thụ qua đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc trước tiên phải qua gan trước khi đến đích, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây ngộ độc gan. Một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ ở Maryland đã quan tâm đến một thuốc kháng virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là một sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt, thuốc phong bế sự đi vào trong các tế bào của VIH ; mặt khác thuốc ức chế men cho phép nó hội nhập trong ADN của những tế bào bị nhiễm virus. Ưu điểm khác : thuốc có thể được phân phát bằng đường qua da, điều này đảm bảo sự cho thuốc đều đặn và lâu dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence với gan.. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một patch có thể phát ra một cách liên tục 96% thuốc trong một tuần. Thuốc mới này sẽ được trắc nghiệm ở các động vật và người.
(LE FIGARO 29/12/2011 – 4/1/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 273 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (2/7/2012)
8/ SIDA CÓ CÒN LÀ MỘT CĂN BỆNH CHẾT NGƯỜI ?
Dominique Costagliola
Epidémiologiste
Nhiễm trùng bởi HIV dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch (immunodépression) (sụt giảm tỷ lệ của vài loại tế bào, những tế bào lympho CD4) và gây nên bệnh Sida (sự xuất hiện một trong 23 nhiễm trùng cơ hội hay những khối u liên kết với tình trạng suy giảm miễn dịch). Phải cần khoảng 8 năm sau khi bị nhiễm trùng bởi HIV để tỷ lệ CD4 trở nên dưới 200/mm3 và khoảng 10 năm để bệnh sida xuất hiện. Những phối hợp của các antirétroviraux được sử dụng để điều trị nhiễm trùng cho phép kiểm soát sự tăng sinh (réplication) của virus trong máu : điều đó kèm theo một sự gia tăng trở lại tỷ lệ CD4 và một sự giảm nguy cơ bị bệnh sida và tử vong. Ở Pháp, khoảng 110.000 người bị nhiễm bởi HIV đã được điều trị năm 2010 và 87% được điều trị bởi các antirétroviraux. Gần 90% các bệnh nhân được điều trị trong ít nhất 6 tháng đã có một charge virale được kiểm soát.
TÌNH HUỐNG RẤT TƯƠNG PHẢN
Trong bối cảnh này, tỷ lệ tử vong ở Pháp đi đến đâu rồi ? Tình huống rất là tương phản tùy theo các bệnh nhân và phần lớn tùy theo giai đoạn bệnh vào lúc chẩn đoán bệnh nhiễm trùng và tùy theo sự điều trị. Khoảng 1/3 bệnh nhân lúc được điều trị đã ở giai đoạn bệnh sida hay một nồng độ CD4 dưới 200/mm3. Thí dụ, 12,7% những bệnh nhân được điều trị khi đã bị bệnh sida chết trong vòng 4 năm, trong khi tỷ lệ tử vong chỉ 1,6% đối với những bệnh nhân được điều trị lúc tỷ lệ CD4 của họ trên 200/mm3.
Ở những người không dùng ma túy bằng đường tĩnh mạch, có tỷ lệ CD4 trên 500/mm3 được điều trị bằng antirétroviraux, tỷ lệ tử vong tương tự với tỷ lệ tử vong của dân thường.
Ở các phụ nữ trong cùng tình huống, khi được điều trị, ngay sau 3 năm, thời kỳ trong đó tỷ lệ CD4 lên trên 500/mm3. Đối với những bệnh nhân bắt đầu điều trị ở giai đoạn sida, nguy cơ tử vong trên nguy cơ của dân chúng nói chung, ngay cả khi tỷ lệ CD4 trở nên trên 500/mm3 sau khi được điều trị.
CÁC UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH GAN
Người ta chết vì sao ? Những công trình nghiên cứu “ ANRS Mortalité ” được thực hiện năm 2000 và năm 2005 đã cho thấy rằng khoảng 1700 người bị nhiễm bởi HIV đã chết vào năm 2000, và 1830 vào năm 2005. Vào năm 2005, 36% những trường hợp tử vong được gây nên bởi một căn bệnh do sida, 17% bởi một ung thư (ngoài viêm gan), 15% do một bệnh của gan, 8% do một bệnh tim mạch và 5% do tự tử. Phần của những tử vong do những nguyên nhân này đã gia tăng giữa năm 2000 và 2005 và phần của những tử vong do bệnh sida đã giảm. Thật vậy, những bệnh nhân bị nhiễm bởi HIV, kể cả những bệnh nhân có charge virale được kiểm soát, có nhiều nguy cơ phát triển các ung thư, các bệnh tim mạch và những bệnh gan hơn so với dân thường.
Hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm HIV khi được điều trị là gì ? Một công trình nghiên cứu mới đây của Anh vừa cho thấy rằng, trong thời kỳ từ năm 1996 đến 2006, hy vọng sống của một người đàn ông 20 tuổi sống với HIV và được điều trị là 39,5 năm. Con số này là 50,2 năm đối với một phụ nữ. Đối với dân chúng nói chung, hy vọng sống được ước tính lần lượt là 57,8 và 61,6. Yếu tố “ CD4 ” ở đây còn có tính chất quyết định : một bệnh nhân 20 tuổi bắt đầu điều trị khi tỷ lệ CD4 dưới 100/mm3 có một hy vọng sống 37,9 năm. Con số này là 41 năm nếu các antirétroviraux được cho khi tỷ lệ CD4 giữa 100 và 200/mm3, và 53,4% khi tỷ lệ CD4 nằm giữa 200 và 350/mm3.
Tất cả những dữ kiện này nhấn mạnh rằng chẩn đoán nhiễm trùng HIV phải được thực hiện càng sớm càng tốt để hạn chế nguy cơ gây tử vong và rằng có thể hy vọng đạt được một hy vọng sống gần với mức trung bình khi điều trị không được bắt đầu ở một giai đoạn quá muộn của nhiễm trùng.
(LE FIGARO 28/11/2011)
9/ SIDA : MỘT LOẠI THUỐC ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM ĐỂ PHÒNG NGỪA
Những điểm chủ yếu :
Đó là một première trong thế giới phương tây : Cơ quan nghiên cứu bệnh Sida của Pháp đã phát động thử nghiệm đầu tiên sử dụng một loại thuốc antirétroviral như là một công cụ phòng ngừa bệnh.
Ta đã biết rằng điều trị những bệnh nhân có bệnh sida đã phát triển làm giảm tỷ lệ virus trong máu và làm giảm nguy cơ gây lây nhiễm đối với những người phối ngẫu. Từ vài năm nay, các antirétroviraux cũng được sử dụng như một điều trị dự phòng (phòng ngừa) sau khi bị tiếp xúc do tai nạn với virus của sida, hoặc sau một sự cố đối với bao dương vật, hoặc khi bị hiếp dâm trong đó nạn nhân không biết tác giả có huyết thanh dương tình hay không hoặc khi một nhân viên điều trị bị tiếp xúc lúc điều trị bệnh nhân. Các thuốc antirétroviraux làm giảm một cách đáng kể nguy cơ lây nhiễm và Bỉ là một trong những nước đầu tiên bồi hoàn điều trị này cho bệnh nhân.
Ở đây đó là một sự sử dụng mới những loại thuốc antirétroviraux : Nó sẽ được đề nghị cho 300 người tình nguyện, những người đàn ông và những transsexuel huyết thanh âm tính có những quan hệ tình dục với những người đàn ông không sử dụng một cách hệ thống một bao dương vật (préservatif), với ít nhất hai partenaire sexuel khác nhau trong 6 tháng trước khi tham gia vào thử nghiệm ”, BS Bruno Spire, trưởng kíp của Inserm đang tiến hành thử nghiệm này đã giải thích như vậy. “ Thử nghiệm so sánh hai nhóm, một nhóm sẽ nhận một biothérapie antirétrovirale, nhóm kia một placebo. Những loại thuốc này sẽ không được dùng liên tục, nhưng theo nhu cầu, trong thời kỳ hoạt động sinh dục. Những người tham gia sẽ bắt đầu dùng thuốc trước những giao hợp, và chấm dứt sử dụng sau thời kỳ hoạt động sinh dục ”.
Những người chủ xướng thử nghiệm đã dự kiến rằng mọi người tham dự, dầu thuộc nhóm nào, sẽ được đề nghị một biện pháp phòng ngừa tăng cường : phân phát các túi dương vật, điều tra phát hiện đều đặn HIV và những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, tiêm chủng chống lại các bệnh viêm gan A và B. Những người tham gia có thể nhận nếu họ muốn những lời khuyên cá thể hóa về phòng ngừa.
Vậy ý tưởng là sử dụng thuốc như thành trì chống lại sự lây nhiễm. Điều đó đã được trắc nghiệm, nhưng với những kết quả không hoàn hảo : vào tháng 7 2010, “ Le Soir ” đã báo cáo những kết quả của một thử nghiệm được tiến hành ở Nam Phi, đã cho thấy rằng sự sử dụng một gel chứa một antirétroviral làm giảm 39% nguy cơ nhiễm trùng. Một thử nghiệm khác, thử nghiệm duy nhất được tiến hành ở những người đồng tính luyến ái, ở Nam Mỹ và Thái Lan, đã cho thấy rằng nguy cơ lây nhiễm được giảm 44% ở những người tình nguyện theo một điều trị thường trực. Tính hiệu quả tương đối của nó dường như do sử dụng điều trị mà không quên.
Những tỷ lệ này vẫn khiêm tốn, rất xa với những tỷ lệ mà một kỹ thuật “an toàn ” phòng ngừa chống lại nhiễm trùng sẽ đề nghị. Chính vì vậy những người chủ xướng thử nghiệm này vẫn rất thận trọng về tính hiệu quả khả dĩ của loại chiến lược này nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm trùng, nhưng cho rằng phải đánh giá xem nó có thể được thêm vào những kỹ thuật hiện có hay không : “ Chính nhờ phối hợp những phương tiện phòng ngừa mà ta sẽ có thể kềm chế được dịch bệnh HIV, bằng cách sử dụng những phương tiện mà tính hiệu quả đã được chứng minh, như túi dương vật, và bằng cách đánh giá lợi ích của công cụ mới như chiến lược này. Đó là vai trò của chúng tôi tiến hành những nghiên cứu này ”, GS Jean-François Delfraissy, giám đốc ANRS đã giải thích như vậy. “ Nghiên cứu cần thiết chống lại bệnh sida phải tiến triển và phải chào đón sự kiện thử nghiệm này được tiền hành, Thierry Martin, giám đốc Plateforme Prévention sida đã phát biểu như vậy. Nhưng vẫn phải thận trọng, nhất là đối với nguy cơ do sự kiện những người tham dự có thể cảm thấy được bảo vệ chống lại sự lây nhiễm. Tỷ lệ giảm nguy cơ 30 hay 40%, đó là khiêm tốn so với những phương tiện làm giảm khác. Mặt khác, họ không nên làm gia tăng nguy cơ của mình do dựa vào tính hiệu quả của điều trị. Ngoài ra điều trị này có một phí tổn, khoảng 600 euro mỗi tháng, cao hơn nhiều phí tổn của một túi dương vật, lại hiệu quả hơn nhiều. Không sử dụng bao dương vật, đó cũng là tiếp xúc với những bệnh lây nhiễm đường sinh dục khác, để chống lại chúng thuốc antirétroviral không có tác dụng bảo vệ ”. Nhà chuyên gia phòng ngừa cũng tự hỏi về những tác dụng phụ khả dĩ của điều trị, cũng như khả năng đề kháng gia tăng của virus đối với thuốc nếu chiến lược này một ngày nào đó được áp dụng trên một quy mô lớn.
(LE SOIR 5/1/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 280 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (13/9/2012)
7/ PHÁT HIỆN HIV : MỘT AUTOTEST Ở HOA KỲ
FDA, cơ quan chính phủ của Hoa Kỳ, vừa cho phép thương mãi hóa một trắc nghiệm tự làm lấy (autotest) phát hiện nhanh virus của bệnh sida (OraQuik). Mọi người Mỹ đều sẽ có thể mua tự do trong các hiệu thuốc và drugstore ngay tháng 10 sắp đến với giá 17,50 dollars (14 euro). OraQuick cho kết quả trong 20 đến 40 phút, chỉ cần lấy nước miếng ở lợi răng. Trắc nghiệm này đáng tin cậy trong 99,98% các trường hợp khi người thử không bị lây bệnh và 92% khi họ bị nhiễm sida. Lý lẽ khiến FDA bật đèn xanh chủ yếu là do sự kiện rằng Hoa Kỳ có 1,2 triệu người bị lây nhiễm, trong đó 20% không biết là mình bị huyết thanh dương tính.
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 283 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (11/10/2012)
Un mal qui “dévore ”
Bệnh giang mai theo Girolamo Fracastor, thi sĩ và thầy thuốc, trong Syphilis Sive Morbus Gallicus (1530)
“ La peau de toutes parts se diapre d’ulcères,
Le visage et le sein sont horribles à voir ;
De l’âcre et lourd fluide, immonde réservoir,
Sur le corps douloureux des pustules formées,
Surgissent, sous l’aspect de glandes enflammées,
Qui bientôt entrouvrant leur cratère repu,
Jette un jus visqueux teint d’un sang corrompu.
En même temps, le mal qui sort par chaque pore,
S’enfonce et prend racine en ce corps q’il dévore.”
Các bệnh nhân chết trong những tháng hoặc năm sau khi bị lây nhiễm trong sự đau đớn ghê gớm. Y khoa bất lực trước tai họa này, được lan truyền do “ thương mãi tình dục ” (commerce sexuel) của một người đàn ông lành mạnh với một người đàn bà bị bệnh và ngược lại, ngay năm 1514, thầy thuốc ngoại khoa của giáo hoàng, Jean de Vigo, đã tiết lộ như vậy trong Traité sur le mal français của ông.
CÁC NHÀ GIẢ KIM (ALCHIMISTE) LÀM GIÀU
Với rất nhiều phí tổn người ta cho mang đến bois de gaic, một loại cây nhỏ từ Trung Mỹ, để điều trị các ông lớn của thế giới này : François đệ nhất, Charles Quint hay giáo hoàng Alexandre VI Borgia. Rồi trước sự vô hiệu của phương thuốc, các thầy thuốc hướng về các muối thủy ngân, được cho bằng cách xoa (friction) hay xông (fumigation). Những tác dụng của điều trị, rất độc, thật là tai hại, ngoại trừ đối với các nhà luyện kim, lại trở nên giàu có. Trong khi đó căn bệnh mất tính độc lực để biến thành một dạng bệnh giảm nhẹ hơn mà ta biết ngày nay. “ Những mầm bệnh ban đầu đưa đến sự tử vong nhanh chóng của bệnh nhân được loại bỏ khá nhanh, nhường bước cho những giống gốc ít độc lực hơn nhưng có khả năng lan truyền hơn ở loài người ”, GS Berche đã giải thích như vậy.
Mặc dầu những sai lầm nghiêm trọng, như chủng tréponème hay tác nhân gây bệnh sốt rét cho những người bị bệnh giang mai, y khoa sau cùng sẽ bắt đầu ghi điểm vào đầu thế kỷ XX. Vào năm 1905, tréponème pâle được nhận diện bởi hai nhà bác học người Đức Fritz Schaudinn và Erich Hoffmann. 5 năm sau, cha đẻ của hóa học liệu pháp, người Đức Paul Ehrlich, hiệu chính loại thuốc đầu tiên hiệu quả chống bệnh giang mai : Salversan, dẫn xuất của Arsenic. Nhưng độc tính của nó, mặc dầu ít hơn rất nhiều so với độc tính của thủy ngân, vẫn tạo vấn đề. Ngoài ra, trái với pénicilline, nó không chữa lành những bệnh nhân ở giai đoạn cuối (stade tertiaire).
Mang lại cú đấm sát thủ, John Mahoney là “ người chủ chốt quan trọng sau cùng của động tác điều trị này chống lại bệnh giang mai ”, GS Berche đã viết như vậy. Nhờ ông, cơn ác mộng y tế, gây nên bởi sự va chạm giữa hai thế giới, trong đó dân chúng, cách xa nhau từ nhiều thiên niên kỷ, đã trao đổi cho nhau những mầm bệnh của tử thần, đối với đại đa số những người đương thời của chúng ta, chỉ còn là một kỷ niệm xa xôi.
(LE FIGARO 14/8/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 286 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/11/2012)
6/ SIDA : VACCIN HỨA HẸN Ở PHỤ NỮ.
Morgane Bomsel, Nữ giám đốc nghiên cứu ở CNRS, giải thích tác dụng của vaccin mới này mà những kết quả đầu tiên rất là đáng phấn khởi.
Hỏi : Ở Pháp, hiện nay bao nhiêu người bị nhiễm bởi virus Sida ?
Morgane Bomsel : Ta thống kê 150.000 trường hợp huyết thanh dương tính (với 6000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó 1700 trường hợp tử vong) nhưng thêm 40.000 đến 50.000, có lẽ không hay biết mình bị huyết thanh dương tính. Mặc dầu không có triệu chứng, những người này có thể truyền virus. Mặc dầu những chiến dịch phòng ngừa, những con số này đã không giảm từ năm 2009.
Hỏi : Trong đất nước chúng ta, những loại người nào thường bị ảnh hưởng nhất ?
Morgane Bomsel : Trong 50% các trường hợp, đó là những phụ nữ bị lây nhiễm khi giao hợp không được bảo vệ, và 20% những người đồng tính luyến ái có huyết thanh dương tính.
Hỏi : Vì những lý do gì số những trường hợp huyết thanh dương tính đã không hạ xuống ?
Morgane Bomsel : Với sự xuất hiện của tam liệu pháp (trithérapie), bệnh sida đã trở nên tầm thường hóa. Ngày nay bệnh sida quá thường được xem như là một bệnh mãn tính, do đó gây nên một sự giảm cảnh giác. Vấn đề khác : những người trẻ có thể không muốn khám phá tình dục của họ với một bao dương vật.
Hỏi : Từ lâu người ta đã tìm cách hiệu chính một vaccin nhưng không thành công. Tại sao bị những thất bại này ?
Morgane Bomsel : Có 3 lý do. 1. Virus sida rất dở chứng : nó thay đổi hình dạng mỗi khi tăng sinh. Dẫu sao, virus vẫn giữ vài trong số những thành phần bền vững của nó. 2. Virus sida có khả năng trốn, do đó không thể phát hiện nó để loại bỏ nó. 3. Virus đi qua niêm mạc, ở đó nó tạo nên những ổ dự trữ (réservoir de virus), trước khi đi vào máu. Vậy có hai giai đoạn trong quá trình nhiễm trùng. Thế mà, cho mãi đến nay, tất cả các vaccin thử nghiệm đều nhằm ức chế virus ở máu, vào giai đoạn 2, do đó thất bại.
Hỏi : Hiện này bà đang tiến hành một công trình nghiên cứu ở phụ nữ với một loại vaccin mới. Cơ chế tác dụng của nó là gì ?
Morgane Bomsel : Chúng tôi đã nghiên cứu một nhóm các phụ nữ đã từng có những giao hợp không được bảo vệ với những bạn đường phối ngẫu huyết thanh dương tính (partenaire séropositif), và đã đề kháng với nhiễm trùng. Chúng tôi đã có thể chứng minh rằng tất cả những phụ nữ này đều mang, trong các chất dịch âm đạo của họ, những kháng thể đặc hiệu có khả năng phát hiện virus và phong bế không cho virus đi vào trong các niêm mạc. Các kháng thể là những tác nhân được chế tạo bởi cơ thể phản ứng lại với sự tấn công của một yếu tố lạ và có khá năng loại bỏ nó. Chúng tôi đã phân tích những kháng thể này trong phòng thí nghiệm và khám phá rằng chúng nhận biết những yếu tố của virus vẫn còn ổn định sau khi biến hóa và chúng có thể phong bế sự đi vào của virus. Vậy chúng tôi đã tìm cách hiệu chính một vaccin có thể tạo lại những dịch tiết âm đạo đề kháng này. Những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi trên thỏ cái đã tỏ ra rất thỏa mãn. 5 phụ nữ đã được tiêm chủng và 6 phụ nữ khác đã nhận một placebo : 6 tháng sau khi tất cả bị nhiễm trùng, chỉ có những phụ nữ được tiêm chủng là được bảo vệ.
Hỏi : Bây giờ bà đã chuyển qua những thử nghiệm ở phụ nữ. Protocole là gì ?
Morgane Bomsel : Cộng tác với société Mymetics, một công trình nghiên cứu đã được tiến hành, bắt đầu với trắc nghiệm tính vô hại của vaccin ở những phụ nữ lành mạnh trong một quần thể có nguy cơ thấp. Sau khi đã chứng minh sự vắng mặt độc tính và khả năng của vaccin sinh ra những kháng thể chống lại virus, chúng tôi đã tìm cách chứng minh xem những kháng thể này có khả năng phong bế virus hay không, như những kháng thể được phát triển bởi những phụ nữ đề kháng. Nhưng vì ta không thể gây nhiễm các phụ nữ trong thí nghiệm, nên những công trình này đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm ex vivo với những mẫu nghiệm niêm mạc âm đạo. Kết quả : thử nghiệm đã thành công trong các dịch tiết được trắc nghiệm và vaccin đã tỏ ra hoàn toàn có hiệu quả ! Virus đã không có thể đi vào trong niêm mạc.
Hỏi : Giai đoạn sắp đến sẽ là gì ?
Morgane Bomsel : Giai đoạn sắp đến nhằm tiêm chủng ở châu Âu 200 phụ nữ có nguy cơ và có những giao hợp không được bảo vệ. Những phụ nữ này sẽ được chia thành hai nhóm : một nhóm sẽ được tiêm chủng, còn nhóm kia thì không. Những kết quả sẽ thu được 3 năm sau. Nhưng để tiến hành công trình nghiên cứu này, chúng tôi thiếu những phương tiện tài chánh. Các quà biếu sẽ là mot hỗ trợ đáng kể.
(PARIS MATCH 8/11 – 14/11/2012)
7/ SIDA : CÁC THUỐC CHỐNG VIRUS HIV ĐƯỢC CHO BẰNG THUỐC DÁN (PATCH)
Những điều trị chống virus sida HIV có bất tiện là phải dùng thuốc uống. : sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc phải qua gan đầu tiên trước khi đến đích điều trị, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây độc cho gan. Một kíp các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong tiểu bang Maryland đã quan tâm đến một thuốc chống virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt nó phong bế sự đi vào trong các tế bào của virus HIV, mặt khác thuốc ức chế enzyme cho phép virus HIV hội nhập vào ADN của những tế bào bị nhiễm. Lợi điểm khác : thuốc có thể được cho bằng đường qua da, điều này bảo đảm thuốc được cho đều đặn và kéo dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence trong gan. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một thuốc dán (patch) có thể phát ra 96% thuốc một cách liên tục trong một tuần. Thuốc dán này sẽ được trắc nghiệm trên các động vật và ở người.
(PARIS MATCH 29/12/2011- 4/1/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 295 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH( 05/02/2013 )
1/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC : CÁC CHLAMYDIAS NHỮNG YẾU TỐ GÂY VÔ SINH.
3% các thanh niên từ 18 đến 25 tuổi bị nhiễm, trong khi điều trị rất là đơn giản.
Không phải là một sự tình cờ khi Viện quốc gia phòng ngừa và giáo dục y tế (Impes) Pháp đã quyết định phát động một chiến dịch phát hiện chlamydia, qua Internet, từ 3 tháng 9 đến 15 tháng 10 năm 2012 : “ Chúng tôi tiếp nhận, một cách cổ điển, một điểm cao các phụ nữ trẻ đến làm xét nghiệm vào tháng 9, hoặc bởi vì họ đánh giá đã chịu những nguy cơ vào mùa hè, hoặc bởi vì bạn đường phối ngẫu của họ có chất dịch chảy ra từ niệu đạo, hoặc bởi vì họ lo ngại vì một vấn đề khác : thí dụ các bệnh nấm (mycoses) ”, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa (bệnh viện mới Port-Royal, Paris) đã giải thích như vậy.
Những phụ nữ trẻ này sau khi được khám đã nhận một thông tin hoàn chỉnh nhân cơ hội này : “ Chúng tôi giải thích cho họ rằng chlamydia là một vi khuẩn thường nhất tiến triển một cách im lặng (trong hơn hai trường hợp trên ba, không có một triệu chứng nào ở phụ nữ) trước khi được phát hiện bởi một viêm vòi trứng (salpingite), có thai ngoài tử cung hay thường hơn là một tình trạng vô sinh (stérilité). Ngay cả đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên của vô sinh, vậy đó không phải là vô hại. Chúng tôi cũng nói với họ rằng sự phát hiện rất là đơn giản : mẫu nghiệm được lấy từ một écouvillon được đưa vào trong âm đạo của các cô gái và từ nước tiểu ở cậu con trai, và rằng trong trường hợp kết quả dương tính, một điều trị kháng sinh cho cả hai partenaire cho phép giải quyết vấn đề.”, BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.
UN DEPISTAGE PAS PRIS EN CHARGE A 100%
Những lý lẽ này đánh trúng hồng tâm : phần lớn các phụ nữ trẻ này chấp nhận điều tra phát hiện và chính như thế mà 7000 trường hợp mới những nhiễm trùng chlamydia được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp. “ Ta ước tính rằng 3% các phụ nữ trẻ từ 18 đến 25 bị nhiễm trùng, nhưng trong số những phụ nữ có nhiều bạn đường phối ngẫu, những tỷ lệ lây nhiễm có thể đạt 10% ”, GS Michel Kanier, giám đốc trung tâm lâm sàng và sinh học các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, bệnh viện Saint-Louis đã ghi nhận như vậy.
Chỉ có điều : “ Làm sao công tác phát hiện này lại không được đảm nhận 100% bởi Sécurité sociale, vài phụ nữ trẻ, có lẽ những phụ nữ cần nhất, không đủ điều kiện để tiếp cận sự phát hiện này. Để giải quyết vấn đề này, có những thỏa thuận địa phương với vài trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí (CDAG : centre de dépistage anonyme et gratuit) như những trung tâm ở Paris đảm trách miễn phí sự phát hiện chlamydia ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, nhưng không phải đều như thế ở khắp nơi trên nước Pháp. Khi đó còn lại giải pháp là đến một trung tâm thông tin, phát hiện, chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng lây bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles), nhưng những trung tâm như thế không có nhiều. Tuy vậy có một sự nhất trí rất rõ ràng về phía các chuyên gia : mọi người trong tình trạng hoạt động sinh dục (sexuellement active) đã không có được một sự bảo vệ tối ưu (nhờ đến các bao dương vật trong 100% các trường hợp) phải làm một trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage), nhất là khi có một sự thay đổi bạn đường phối ngẫu (partenaire). Điều này đủ bởi vì trái với các lậu cầu khuẩn và với tréponème (vecteur truyền bệnh giang mai), sự lan truyền chlamydia qua đường miệng rất hiếm ”, GS Michel Janier đã nhấn mạnh như vậy.
MỘT “ HOME TEST ” ĐẾN Ở PHÁP
Đối với những kẻ ưa thích những phát hiện “ ở nhà ” hơn, được cho là kín đáo hơn, tin vui : đó là một “ home test ” xuất hiện ở Pháp, như điều đã thường được thực hiện trong những nước khác của Liên hiệp châu Âu. Ưu điểm chính : không cần đến phòng xét nghiệm với một y lệnh. Bất tiện chính : trắc nghiệm này không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. Ngoài ra, trong trường hợp kết quả dương tính, dẫu sao cũng phải có một ordonnance để được kê đơn một điều trị kháng sinh, cho mình và cho partenaire, mặc dầu người bạn đường phối ngẫu này không có một triệu chứng nào và đã được làm một test với kết quả âm tính. Thật vậy, không gì nói được rằng người bạn đường phối ngẫu này không ở trong thời kỳ ủ bệnh và do đó anh ta sẽ không là nguồn lây nhiễm trong những này sau đó ”, GS Janier và BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.
Hiện nay điều trị chủ yếu dựa vào, đối với người đàn ông cũng như đối với người đàn bà, uống 1 liều duy nhất 4 viên azithromycine, một kháng sinh họ macrolides. Và các giao hợp phải bị cấm chỉ trong 1 tuần, thời gian để thuốc tác dụng. “ Điều đó rất thực tiễn, nhưng vài trường hợp đề kháng được quan sát trên thế giới làm cho các chuyên gia bắt đầu tự hỏi không biết có hợp lý trở lại một điều trị 7 ngày, bằng một kháng sinh thuộc họ cyclines hay không. Khi đó một vấn đề khác được đặt ra : vấn đề tuân thủ tồi điều trị. Như thế, 70% những người được điều trị trong 7 ngày thỉnh thoảng quên uống kháng sinh hay dừng quá sớm bởi vì họ không có (hay không còn nữa) các triệu chứng ”, GS Janier lấy làm tiếc như vậy.
Sau cùng thêm vào một vấn đề nữa : hoặc vì xấu hổ (không đúng) hay vì sợ gieo nghi ngờ vào lòng chung thủy của mình, rất nhiều người bị nhiễm thấy tốt hơn là không nói gì hết. Hậu quả : mặc dầu những chiến dịch thông tin, các con số nhiễm trùng bởi chlamydia vẫn ổn định.
(LE FIGARO 8/10/2012)
2/ CÁC LẬU CẦU KHUẨN NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG.
Đó là nhiễm trùng chủ yếu đang tăng cao ở những người đàn ông có những quan hệ tình dục với những người đàn ông cũng như ở những người dị tính luyến ái (hétérosexuel), lý do là một sự lơi lỏng trong việc nhờ đến một cách hệ thống những bao dương vật và do việc thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral). “ Thật vậy, lậu cầu khuẩn rất có thể tọa vị trong họng, nhưng không cho một triệu chứng nào, GS Michel Janier (bệnh viện Saint-Louis) đã nhấn mạnh như vậy. Và ngay cả trong trường hợp nhiễm trùng sinh dục, nó có thể tiến triển một cách im lặng trong một thời gian lâu ở phụ nữ, trước khi gây một tình trạng vô sinh (stérilité). Sau cùng chỉ ở người đàn ông mà nhiễm trùng khó mà không được nhận biết, vì lậu cầu gây nên sự xuất hiện triệu chứng đi tiểu rát và mủ niệu (do đó có tên “ đái nóng ” (chaude-pisse). Sự xuất hiện những trắc nghiệm chẩn đoán mới rất đáng tin cậy (những trắc nghiệm PCR dựa trên sinh học phân tử khuếch đại), cho phép tìm kiếm cùng lúc chlamydia và lậu cầu, vậy đó là một tin vui, nhưng hiện nay, những trắc nghiệm này chưa được công nhận bởi Sécurité sociale và do đó chỉ có thể thực hiện ở bệnh viện.”
Do không được phát hiện đủ, nhất là ở phụ nữ và ở những người thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral), lậu cầu khẩu phát triển tốt. Còn đáng lo ngại hơn : trong khi cho đến nay vi khuẩn này nhạy cảm 100% đối với ceftriaxone (Rocephine) (một kháng sinh thuộc céphalosoprine thế hệ thứ ba), nhiều trường hợp đề kháng đã được mô tả trên thế giới, gồm cả ở Pháp. “ Trong nhiều năm, một liều 125 mg là đủ để trừ khử các lậu cầu khuẩn, rồi đã phải chuyển qua 250 mg. Hôm nay, ngay cả cần đến 500mg và ở vài bệnh nhân điều đó không còn đủ nữa. Thế mà chúng ta không có giải pháp thay thế thỏa mãn. Thật vậy, đúng là có một kháng sinh cũ còn có thể có tác dụng (gentalline), nhưng loại thuốc này có tiềm năng độc hại đối với thận, tai và do đó khó sử dụng. Sau cùng hai loại kháng sinh khác đầy hứa hẹn hiện đang được chế tạo, nhưng chúng cũng sẽ phải được sử dụng một cách thận trọng và chỉ hiện diện dưới dạng thuốc tiêm ”, GS Janier đã xác nhận như vậy. Ý kiến này được chia xẻ bởi GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble. Ông này lo sợ tính chất đa đề kháng của các vi khuẩn đối với các kháng sinh và không chỉ trong lãnh vực các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.
ÍT SỬ DỤNG HƠN CÁC BAO DƯƠNG VẬT
Sau cùng, nhiều nhiễm trùng lậu cầu khuẩn hơn, điều này cho thấy trước sự gia tăng của sự lây truyền những bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục nghiêm trọng hơn như VIH hay viêm gan B, do việc lơi lỏng sử dụng các bao dương vật. “ Ở các phụ nữ đã gia tăng những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), chúng tôi không do dự đề nghị một điều tra phát hiện toàn bộ những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục chính, từ một mẫu nghiệm máu (đối với VIH, viêm gan B và giang mai), từ một bệnh phẩm âm đạo (chlamydia, lậu cầu) và từ một frottis nhằm tìm kiếm những dấu hiệu gián tiếp nhiễm trùng papillomavirus, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa thuộc bệnh viện mới Port-Royal (Paris), đã nhận xét như vậy. Chúng tôi cũng lợi dụng điều đó để nhắc lại với họ rằng préservatif nữ cũng hiệu quả như préservatif nam để phòng ngừa phần lớn những trường hợp nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.”
(LE FIGARO 8/10/2012)
3/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG NÀY LÀM DỄ BỆNH SIDA
Mỗi năm ở Pháp, 6700 người bị lây nhiễm bởi virus bệnh sida, thường nhất qua đường sinh dục. Những con số của bệnh ở Pháp vì gần như ổn định, nên điều đó có nghĩa là sự bảo vệ bằng các bao dương vật vẫn không đủ.
“ Sự kiện bệnh sida ngày nay được xem như một bệnh mãn tính, được điều trị, có lẽ đã góp phần đưa đến một sự lơi lỏng tinh thần cảnh giác. Tuy vậy phải nhận thức rõ ràng những điều trị này không phải là không có những tác dụng phụ và như thế thật là chán ngắt khi phải uống thuốc mỗi ngày. Cũng vậy, đúng là có một điều trị cấp cứu được đề nghị ở bệnh viện cho những người đã có một giao hợp có nguy cơ với một người huyết thanh dương tính, nhưng phải hành động nhanh và điều trị này không phải là vô hại, GS Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trung thuộc CHU de Grenoble, đã nhấn mạnh như vậy. Còn về những hứa hẹn vaccin, phải dè chừng những tác dụng loan báo : ta còn rất lâu mới đề nghị một cách thường quy một vaccin và sẽ còn cần nhiều năm trước khi đạt được điều đó ”, GS Stahl đã nói tiếp như vậy.
Nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida càng quan trọng khi bệnh nhân vốn đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác, như herpès sinh dục, than ôi lại khá thường gặp. Hai triệu người Pháp mang virus này, nguy cơ lây nhiễm đối với partenaire tối đa vào lúc một cơn bộc phát các mụn nước (vésicule). Đúng là có một điều trị kháng virus (aciclovir) được cho trong trường hợp các cơn bộc phát thường xuyên, nhưng không đủ để phòng ngừa nguy cơ truyền nhiễm. Do đó mang bao dương vật là điều không thể thay thế được.
Cũng như thế để tránh sự lây truyền của một bệnh viêm gan B, một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục khác được biết rõ là cũng làm dễ nhiễm trùng bởi HIV. Có nhiều bạn đường phối ngẫu hay là người nghiện ma túy là hai nguyên nhân chính gây nhiễm trùng bởi virus của viêm gan B. Vào giai đoạn viêm gan triệu chứng lây nhiễm, những điều trị với các antirétroviraux cho phép ngăn cản sự xuất hiện của một ung thư gan đối với bệnh nhân và làm giảm rất nhiều những nguy cơ lây nhiễm partenaire. Nhưng để tránh mọi nguy cơ, tốt nhất là được tiêm chủng, thế mà dân Pháp đã trì chậm rất nhiều trong lãnh vực này ”, BS Stahl đã nhấn mạnh như vậy. Một lý do tốt để nghĩ đến phát hiện bệnh : Nói chung sự phát hiện bệnh được đề nghị vào lúc mang thai hay lúc phẫu thuật.
NHỮNG THƯƠNG TỔN ĐÔI KHI GÂY CHẾT NGƯỜI.
Sau cùng, sự hiện diện của một bệnh lây nhiễm đường sinh dục nguồn gốc vi khuẩn cũng làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida. Vậy đó là trường hợp đối với chlamydia, lậu cầu khuẩn, nhưng cũng đối với bệnh giang mai mà ở Pháp không còn được nghe nói đến nữa cho đến những năm 2000, trước khi tái phát trở lại, nhất là trong giới đồng tính luyến ái. Khởi đầu bệnh giang mai có thể gây nên một chancre (vết loét) không đau, rồi vài tuần sau, nổi ban da và hội chứng cúm và, nếu không được điều trị kháng sinh, những thương tổn của não, các dây thần kinh, của tim, đôi khi gây chết người. Thế mà cũng giống như lậu cầu khuẩn, tréponème gây bệnh giang mai có thể sống sót trong họng mà không được nhận biết. Vậy về chiến lược phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, đất nước của chúng ta (Pháp) còn có nhiều điều để làm.
(LE FIGARO 8/10/2012)
5/ SIDA : TRIỄN VỌNG VACCIN MỚI
Ở khỉ, một vaccin bằng đường miệng trung hòa sự hoạt hóa của những tế bào bị nhiễm cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
PANDEMIE. Một vaccin chống virus gây bệnh sida hoàn toàn mới đã được hiệu chính bởi một kíp Pháp-Hoa, được lãnh đạo bởi GS Jean-Marie, thuộc đại học Paris-Descartes, và Louis Wei Lu, giám đốc nghiên cứu thuộc Institut de recherche pour le développement (IRD), ở Montpellier. Được trắc nghiệm trên mô hình động vật tương cận với người nhất, macaque, sự tiêm chủng này đã bảo vệ lâu dài 14 động vật trên 16 chống lại một nhiễm trùng bởi virus gây suy giảm miễn dịch của khỉ, tương đương ở động vật này, của virus sida hay VIH ở người.
PHUƠNG PHÁP ĐỘC ĐÁO
“ Công trình này, Olivier Schwartz, giám đốc của khoa siêu vi trùng học của Viện Pasteur đã xác nhận như vậy, là lý thú và đầy hứa hẹn. Có nhiều thử nghiệm khác về các ứng viên vaccin ở khỉ, nhưng ở đây phương pháp là độc đáo ”. Thật vậy, vaccin này không cần phải tiêm và có thể được cho một cách trực tiếp bằng đường miệng. Một cách tóm tắt, vaccin này trung hòa sự hoạt hóa của các tế bào bị nhiễm, cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
Từ khi virus của bệnh sida được nhận diện vào năm 1983 bởi một kíp nghiên cứu của Viện Pasteur, Paris, những cố gắng to lớn đã được dành cho việc nghiên cứu một vaccin chống lại virus này. Tuy vậy, sau 187 thử nghiệm lâm sàng các vaccins, hơn 8 tỷ dollars đã được tiêu phí cho nghiên cứu, chủ yếu bởi recherche publique Hoa Kỳ, sự thất bại là hoàn toàn. Chỉ có 3 thử nghiệm lâm sàng có tầm cỡ đã được tiến hành, thử nghiệm đầu tiên, được gọi là VAX 004, vào năm 1998, đã chẳng mang lại kết quả gì ; thử nghiệm thứ hai, được mệnh danh STEP, đã phải dừng lại sớm vì cùng lý do ; thử nghiệm cuối cùng, RV144, đã được thực hiện ở Thái lan, trên một số lượng khổng lồ 16.000 người tình nguyện, đã thu được một sự giảm 30% những nhiễm trùng mà ta chưa biết một cách chính xác tại sao. Hiện nay, chỉ một thử nghiệm thuộc loại này vẫn đang còn được tiến hành ở Hoa Kỳ.
Một cách nghịch lý, những lý do của sự thất bại này được biết từ khởi thủy bởi các nhà nghiên cứu. Virus của bệnh sida có những đặc điểm duy nhất làm chúng không thể bị túm được một khi đã vào trong cơ thể. Protéine, ở bề mặt của màng tế bào virus sida, cực kỳ thay đổi từ con virus này đến con khác, làm nhầm lẫn những toan tính nhận biết bởi hệ miễn dịch. Lại càng đáng sợ hơn, virus nhắm và phá hủy những tế bào chủ yếu đối với đáp ứng miễn dịch, các tế bào lympho T4, cho phép trừ khử virus. Những virus sida có một yếu điểm mà Jean-Marie Andrieu và đồng nghiệp của ông Louis Wei Lu đã lợi dụng. Để sinh sản, HIV phải chờ cho tế bào mà nó gây nhiễm tự hoạt hóa. “ Bằng cách làm cho cơ thể có khả năng làm bất hoạt những tế bào bị nhiễm của nó, chúng tôi giết trong trứng nước mọi sự tăng sinh của virus ”, GS Andrieu đã nói rõ như vậy.
Một sự bất hoạt như thế được gây nên bởi các vi khuẩn ruột. Những vi khuẩn này hẳn phải gây nên một sự dung nạp của cơ thể của chúng ta đối với chúng. Thí nghiệm đã có thể tiến hành trên khoảng 100 con khỉ nhờ sự hỗ trợ của Viên y học nhiệt đới của Canton (Trung Quốc). Thí nghiệm nhằm cho ruột của các con khỉ tiếp xúc với những nồng độ rất cao của một giống gốc vi khuẩn với sự hiện diện của virus bệnh sida được làm bất hoạt.
Hy vọng của các nhà nghiên cứu là gây nên một sự dung nạp của hệ miễn dịch, cũng sẽ bao gồm virus hiện diện. 3 tháng sau, khi 8 con khỉ, sau khi đã được tiêm chủng và được làm lây nhiễm bởi những liều mạnh virus, không con nào đã bị nhiễm siêu vi trùng, trái lại với những con khỉ không được tiêm chủng, tất cả đều bị nhiễm virus. Hơn 1 năm sau, khi 8 con khỉ một lần nữa bị làm lây nhiễm, 7 con không có một con virus nào trong máu cũng như trong niêm mạc của chúng. “ 3 năm sau, tất cả những con khỉ này vẫn luôn luôn không bị nhiễm virus và khỏe mạnh, Jean-Marie Andrieu đã xác nhận như vậy. Và con khỉ duy nhất bị nhiễm virus, là con khỉ, trong những trắc nghiệm của chúng tôi, đã không phát triển dung nạp ”.
Các nhà nghiên cứu ngay cả cho thấy trong Cell Reports rằng sự tiêm chủng này vẫn có hiệu quả đối với một giống gốc khác của virus, bằng cớ một hiệu quả trung hòa tổng quát hơn của những tế bào bị nhiễm bởi hệ miễn dịch.
CHUYỂN QUA NGƯỜI
Hai bằng sáng chế đã được trình tòa nhân danh IDR, thuộc đại học Paris-Descartes và công ty Biovaxim, được thành lập với sự hỗ trợ tài chánh của một bệnh nhân tỏ lòng biết ơn đối với GS Jean-Marie Andrieu. Giai đoạn kế tiếp, chuyển sang người, tuy nhiên sẽ dành những điều không chắc chắn bởi vì, theo GS Jean
Daniel Lelièvre, phụ trách chương trình lâm sàng tiêm chủng ở ANRS (cơ quan nghiên cứu về bệnh sida và những viêm gan siêu vi trùng,“ virus người thay đổi nhiều hơn virus ở khỉ và mặt khác, các con khỉ macaque thường đề kháng với nhiễm trùng hơn so với người ”.
Trên phương diện thực hành, ngược lại, thí nghiệm dường như có thể tiếp cận. Việc gây nên sự dung nạp với vi khuẩn Lactobacillus phantarum đã cho thấy tính vô hại của nó ở người. Sự hấp thụ bằng đường miệng VIH được làm bất hoạt, được trắc nghiệm một cách rộng rãi ở khỉ, dường như không có một nguy cơ nào, mặc dầu Chính phủ Hoa Kỳ đã chưa cho phép sử dụng như là một vaccin phòng ngừa ở người. Sau cùng, vaccin này cũng có thể dùng để điều trị ở những bệnh nhân huyết thanh dương tính, bằng cách phong bế ở những bệnh nhân này khả năng tăng sinh của virus trong các tế bào bị nhiễm, điều này mang lại một giải pháp thay thế cho liệu pháp chống virus hiện đang sử dụng. Những thử nghiệm theo chiều hướng này ở người, sẽ được bắt đầu ngay năm này trong một nước châu Âu, sẽ cho thấy một cách nhanh chóng là triễn vọng mới của vaccin có tương lai hay không.
(LE FIGARO 24/1/2013)
6/ SIDA : MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ MỚI
Những thử nghiệm lâm sàng của một vaccin chữa bệnh (vaccin curatif) mới sẽ bắt đầu ở Marseille trên 48 người tình nguyện huyết thanh dương tính. Vậy đó không phải là một vaccin ngăn cản mắc bệnh, mà là một loại thuốc có khả năng tăng cường phòng vệ miễn dịch. Mục tiêu là một protéine được gọi tên là Tat (thay thế cho chữ “ transactivating ). “ Ở những người huyết thanh dương tính, protéine này đóng vai trò garde du corps của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng, GS Erwann Loret, người khởi xướng thí nghiệm ở Hôpital de la Conception, đã giải thích như vậy. Cơ thể của những bệnh nhân này không có khả năng nhận biết nó cũng không có khả năng trung hòa nó, điều mà vaccin được thử nghiệm sẽ cho phép.”
48 bệnh nhân huyết thanh dương tính và hiện đang được điều trị bởi tam liệu pháp (trithérapie) sẽ tham gia vào công trình nghiên cứu. Những kết quả sơ khởi đầu tiên được dự kiến từ nay đến 5 tháng nữa. Chính nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra thận trọng. “ Đó không phải là hồi kết thúc của bệnh sida. Ngay cả đó không phải là khởi đầu của sự chấm dứt của bệnh sida.” Nhưng hôm qua, vài người đã loan báo “ première mondiale ”. Đúng như vậy về protéine này, nhưng rất quá đáng khi nói đến ý niệm “ vaccin chữa lành bệnh ” GS Jean-François Delfraissy, giám đốc cơ quan nghiên cứu Pháp về bệnh sida (ANRS), nói rằng “ từ 25 đến 26 công trình thử vaccin ” hiện đang được tiến hành trên thế giới. Vả lại những thử nghiệm trước đã chịu những thất bại quan trọng.
“ Phải thận trọng khi chúng ta đưa ra những thông điệp cho bệnh nhân ”, Jean François Delfraissy đã giải thích như vậy. Ông xác nhận rằng công cụ tiêm chủng chống lại HIV chưa hiện hữu mặc dầu đã nhiều năm nghiên cứu. Hiện nay, 40% những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên thế giới nhằm vào những vaccin điều trị chống bệnh sida, so với 60% những vaccin có mục đích phòng ngừa.
Một vaccin điều trị hiện được trắc nghiệm ở Viện y học nhiệt đới và ở bệnh viện đại học Anvers (Bỉ).
(LE SOIR 30/1/2013)
1/ SỰ TRỞ LẠI CỦA CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC.
Vài bệnh trong số những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục như bệnh lậu (blennorragie) hay chlamydiose có khuynh hướng gia tăng.
DEPISTAGE. “ Giữa năm 2008 và 2009, sự gia tăng các trường hợp bệnh lậu (gonocoocie) đã đạt đến 52% ở Pháp. Căn bệnh này không còn giới hạn vào các nhóm có nguy cơ nữa nhưng từ nay được quan sát trong toàn bộ dân chúng ” , BS Caroline Semaille, người phụ trách đơn vị VIH/IST/viêm gan B và C thuộc Viện quốc gia theo dõi y tế (INVS : Institut national de veille sanitaire), đã nhấn mạnh như vậy. Căn bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, gây nên bệnh lậu, có một thời gian tiềm phục rất ngắn và tỏ ra là một sentinelle thật sự đối với những hành vi có nguy cơ. Ngoài ra, những con số mới nhất mà IVNS nhận được vào năm 2009, cho thấy một sự gia tăng đáng kể các trường hợp nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia trachomatis, ảnh hưởng lên gần 10% các phụ nữ trẻ trong vài tỉnh.
Sau cùng, mặc dầu sự gia tăng trở lại của bệnh giang mai được quan sát từ năm 2000 (trong khi căn bệnh này vốn gần như đã biến mất trong những năm 1990), rốt cuộc dường như đã bị dập tắt, nhưng số các trường hợp giang mai tiềm tàng (syphilis latente), được phát hiện khi nó không gây nên những triệu chứng rõ rệt nữa, từ nay chiếm 35% những trường hợp được phát hiện.
“ Dầu sao cũng cần phải nhắc lại rằng, ta ở xa các con số của những năm 1980 và đó không phải là một sự bùng nổ của các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, GS Michel Janier, chủ tịch section MST thuộc Hiệp hội khoa Da Pháp, đã chỉ rõ như vậy. Tuy nhiên điều này đặt ra vấn đề về tính hiệu quả của những biện pháp được thiết đặt nhằm ngăn ngừa chúng.”
Mặc dầu khó xác định đâu là nguyên nhân chính xác của những gia tăng này, hai yếu tố dường như đóng một vai trò. VIH đã cho phép tầm thường hóa việc sử dụng bao dương vật, dẫn đến một sự sụt giảm đột ngột các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục vào cuối những năm 1980, nhưng không đủ để ngăn ngừa những nhiễm trùng khác có những cách truyền bệnh khác nhau. Fellation, được thực hiện thường nhất không cần đến bao dương vật, như thế cho phép sự lan truyền của nhiều mầm bệnh. Do đó sự biến đổi của những hành vi tình dục đóng một vai trò quan trọng.
Ngoài ra, mặc dầu vài bệnh nhiễm trùng lây truyền bằng đường sinh dục được phát hiện nhờ những dấu hiệu hiển nhiên như các dịch chảy bất thường ở dương vật, các triệu chứng rát lúc tiểu tiện, các khí hư âm đạo hay sự xuất hiện của những thương tổn khu trú, dầu vậy những thương tổn này thường im lặng không gây triệu chứng. Do đó nhiều người mang bệnh mà không biết, với những hậu quả quan trọng vì lẽ các bệnh lậu hay các bệnh do Chlamydia có thể dẫn đến có thai ngoài tử cung hay vô sinh nơi phụ nữ hay dẫn đến viêm nghiêm trọng của tuyến tiền liệt, của các tinh hoàn và mào tinh hoàn ở đàn ông.
“ Sự điều tra phát hiện là công cụ đấu tranh hiệu quả nhất để nhận diện chúng và điều trị chúng sớm, BS Semaille đã nhắc lại như vậy. Đó là tránh những biến chứng đối với bệnh nhân nhưng cũng để phòng ngừa những lây nhiễm mới, nhất là các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục lại làm dễ sự lây nhiễm bởi VIH. ”
Sau một giao hợp với một bạn đường phối ngẫu mới hay khi mới đây ta đã có nhiều bạn đường tình dục, điều quan trọng là thực hiện một phát hiện bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, mỗi năm lập lại một lần nếu tình trạng nguy cơ kéo dài. Chỉ có sự phát hiện bệnh giang mai là cần phải lấy máu mặc đầu không có những thương tổn có thể thấy được, còn những bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác được phát hiện nhờ một phân tích nước tiểu hay lấy một bệnh phẩm tại chỗ.
Sự xuất hiện những xét nghiệm nhanh hẳn còn làm dễ hơn việc điều trị các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục. “ Trong 5 năm nữa, việc xử trí điều trị các bệnh lây truyền bằng đường sinh dục sẽ hoàn toàn khác. Đó sẽ là một cuộc cách mạng thật sự bởi vì, trong vòng một giờ, ta sẽ có thể có sự phát hiện, kết quả và điều trị ”, BS Chantal Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục-ung thư[*] chủng ngừa đã chỉ rõ như vậy.
Những traitement “ minute ”, dùng một liều cao duy nhất kháng sinh đã được khuyến nghị. Chúng cho phép tránh những điều trị lâu dài làm dễ sự xuất hiện các đề kháng đối với kháng sinh. Thí dụ các lậu cầu đã trở nên đề kháng với nhiều kháng sinh và từ nay điều trị phải là một mũi tiêm mông duy nhất 500 mg ceftriaxone.
Đối với những nhiễm trùng nguồn gốc virus (papillomavirus, herpès, viêm gan) không có điều trị có khả năng triệt trừ các virus, nhưng có một vaccin chống lại papillomavirus và các viêm gan A và B. “ Tiêm chủng là công cụ duy nhất hoàn toàn có hiệu quả. Tiếc thay việc tiêm chủng không được thực hiện rộng rãi nơi các người trẻ, là những đối tượng đặc biệt bị liên quan ”, BS Vernay-Vaidde đã nhắc lại như vậy. Sự tiêm chủng chống lại papillomavirus, hiện nay chỉ nhằm vào các phụ nữ trẻ, cũng có thể được đề nghị cho các người đàn ông.
(LE FIGARO 27/6/2011)
2/ “CHLAMYDIA ”, THẦM LẶNG NHƯNG CÓ MẶT
“ Các nhiễm trùng gây nên bởi Chlamydia đang gia tăng một cách hằng định. Trong Boucles-du-Rhône, chúng tôi đã quan sát, vào năm 2010, một tỷ lệ lưu hành 9,3% ở các phụ nữ trẻ từ 20 đến 25 tuổi ”, BS Vernay-Vaisse, trưởng khoa phòng ngừa bệnh lây truyền bằng đường sinh dục-ung thư-tiêm chủng, đã chỉ rõ như vậy. Sự gia tăng hiện nay của Chlamydiae trachomatis ảnh hưởng chủ yếu các phụ nữ trẻ tuổi sau thời kỳ thiếu niên, nhưng cũng gây bệnh cho các người đàn ông. Ở quy mô quốc gia, các con số đạt đến 3,2% đối với các phụ nữ và 2,5% đối với những người đàn ông giữa 18 và 29 tuổi. Phần lớn nhưng nhiễm trùng đo Chlamydia vẫn thầm lặng không triệu chứng (giữa 60 và 70%) và thường được phát hiện lúc tìm kiếm một bệnh lây truyền bằng đường sinh dục khác hay nhân một thăm khám thường quy. Sự gia tăng được quan sát như thế có thể là hậu quả của một công tác điều tra phát hiện tốt hơn, được làm dễ bởi những xét nghiệm nhanh hơn và dễ đề nghị hơn. Theo INVS, số các trường hợp chẩn đoán đã gia tăng 19% ở đàn ông và 25% ở phụ nữ giữa năm 2008 và 2009.
“ Đó là căn bệnh của tất cả mọi người, không có nhóm người nào nguy cơ hơn một nhóm khác, BS Chantal Vernay-Vaisse đã cảnh cáo như vậy. Do đó chúng tôi đề nghị phát hiện một cách hệ thống cho tất cả các phụ nữ dưới 30 tuổi vì lẽ có một nguy cơ bị vô sinh.” Thật vậy, trong hầu hết các trường hợp, các bệnh gây nên bởi chlamydia vẫn không có triệu chứng nhưng những hậu quả về lâu về dài của chúng có thể rất là nghiêm trọng. Các bệnh do chlamydia có thể là nguyên nhân dẫn đầu gây nên có thai ngoài tử cung nơi 2% các phụ nữ bị nhiễm trùng và là nguyên nhân gây vô sinh do tắc vòi trứng đối với 3% trong số những phụ nữ này. Ở người đàn ông, trong 5% các trường hợp, nhiễm trùng gây nên bởi chlamydia có thể dẫn đến viêm các tinh hoàn hay mào tinh hoàn. Sự phát hiện bằng PCR, được thực hiện với bệnh phẩm là tia phóng nước tiểu đầu tiên ở đàn ông và bằng một autoprélèvement par écouvillon nơi phụ nữ, từ nay được làm dễ bởi vì nó cho phép một phát hiện rất sớm, không phải chờ đợi những thương tổn vòi trứng được phát hiện nhờ những phân tích máu. “ Sự dễ dàng trong việc sử dụng có thể cho phép một sự điều tra phát hiện đại trà, kể cả bởi những người không thuộc ngành y tế ”, GS Michel Janier, chủ tịch của section MST của hiệp hội khoa da của Pháp đã nhấn mạnh như vậy. Việc điều trị cũng rất đơn giản và nhanh chóng : 1g azithromycine bằng một liều duy nhất.
Cũng như các bệnh gây nên bởi chlamydia, nhiều bệnh lây truyền bằng đường sinh dục có thể vẫn không gây triệu chứng và, chừng nào chẩn đoán không được xác lập và điều trị không được thực hiện, những người bị nhiễm trùng có thể tiếp tục truyền bệnh. Vậy điều thiết yếu là có khả năng nhận diện những bạn đường phối ngẫu ngay khi chẩn đoán được xác nhận, để phòng ngừa chúng và cho phép những người này tự điều trị lấy mình.
“ Vì ta đụng đến vấn đề tình dục, nên điều quan trọng là phải dùng thời gian để thảo luận với bệnh nhân, gây nơi họ lòng tin cậy và tránh mọi phán đoán để các thông tin thu được đúng là tương ứng với thực tế ”, BS Annie Vermersch-Langlin, trưởng khoa da liễu của bệnh viện Valenciennes đã đánh giá như vậy. Tính hiệu quả lớn nhất của chẩn đoán các bệnh gây nên bởi chlamydia có thể chỉ rõ rằng từ nay sự đối thoại được cởi mở hơn.
(LE FIGARO 27/6/2011)
3/ “ CHLAMYDIA ” VÀ THAI NGHÉN, CẶP ĐÔI NGUY CƠ
Vi khuẩn Chlamydia trachomatis là một nguyên nhân thường thấy của bệnh lây truyền bằng đường sinh dục, nhất là ở phụ nữ. Nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá nguy cơ sinh non gây nên bởi nhiễm trùng do chlamydia này trong lúc thai nghén nhưng các kết quả không hòa hợp. Theo một điều tra mới đây và quy mô lớn, các bệnh gây nên bởi Chlamydia (chlamydiose) có thể có một vai trò quan trọng trong nguy cơ sinh non. Hơn 4000 phụ nữ có thai đã tham dự vào sự theo dõi này bằng bảng câu hỏi với lấy mẫu nghiệm nước tiểu và tìm kiếm C.trachomatis bằng sinh học phân tử (PCR). Toàn bộ, nhiễm trùng đã được tìm thấy ở 4% các phụ nữ. Mặc dầu có tính đến những yếu tố làm gia trọng khác (tuổi dưới 21, nhiều bạn đường phối ngẫu), nguy cơ sinh non, hoặc sinh con từ 35 tuần thai nghén, được nhân lên gấp đôi trong trường hợp nhiễm trùng do chlamydia. Vì vậy, một sự điều tra phát hiện tốt hơn các phụ nữ nguy cơ và sự kê đơn một thuốc kháng sinh thích hợp trong thời kỳ thai nghén sẽ cho phép làm giảm nguy cơ này.
(SCIENCES ET AVENIR 7/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 237 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (1/8/2011)
5/ SIDA : NHỮNG CHIẾN LƯỢC PHÒNG NGỪA MỚI.
Một hội nghị quốc tế đã xác nhận lợi ích của việc cắt bao quy đầu (circoncision) và ảnh hưởng của những điều trị kháng virus (traitements antiviraux) trong phòng ngừa.
EPIDEMIE. Hội nghị khoa học quốc tế về sida, đã quy tụ hơn 6000 chuyên gia, đã bế mạc hôm chiều thứ tư ở Rome và đã xác nhận những hướng mới để kiểm soát một dịch bệnh ảnh hưởng lên 33 triệu người. “ Trong những tháng qua, những khám phá về những tác dụng của điều trị trong sự truyền của virus có những ý nghĩa đáng kể, giáo sư Michel Kazatchkine, tổng giám đốc của Quỹ thế giới chống bệnh sida, sốt rét và bệnh lao đã giải thích như vậy. Như Pasteur đã từng nói, khi ta giảm bể chứa virus, sẽ có ít sự lây truyền hơn. Do đó sự phổ cập điều trị cho bệnh nhân là lựa chọn kinh tế hợp lý nhất. Ngày xưa có một biên giới thật sự giữa điều trị và lan truyền. Ngày nay điều đó không còn lý do để tồn tại ”. Trong khi sự phòng ngừa bằng bao dương vật (préservatif) trên bình diện cá nhân vẫn là chiến lược căn bản trong những nhóm người có nguy cơ, nhiều công trình nghiên cứu, được trình bày ở Rome, đã phát hiện những chiếc lược mới hay đã xác nhận chúng.
33 TRIỆU NGƯỜI BỊ NHIỄM BỞI VIRUS.
Như thế ý tưởng điều trị bằng những thuốc kháng virus (antiviraux) những người có nguy cơ để tránh sự lây nhiễm bắt đầu đạt đến đích. Một điều trị được tiến hành từ 7 /2007 đến tháng 12/2009 trong 6 nước, được thực hiện trên 2499 người từ 18 đến 65 tuổi, không bị nhiễm bởi virus sida, sử dụng hoặc Truvada, một phối hợp các thuốc kháng virus, hoặc một placebo. Đó là những người đồng tính luyến ái huyết thanh âm tính sống với một partenaire huyết thanh dương tính. Các kết quả được trình bày ở Rome cho thấy rằng những người được điều trị tích cực bằng những thuốc kháng virus có một nguy cơ mắc phải virus sida giảm 92%. Những công trình nghiên cứu khác đã xác nhận hiệu quả phòng ngừa của một điều trị phòng ngừa ở những người huyết thanh âm tính nhưng có nguy cơ. “ Chúng ta còn trong lãnh vực nghiên cứu, giáo sư Jean-François Delfraissy, tổng giám đốc của Cơ quan nghiên cứu về bệnh sida (ANRS) đã xác nhận như vậy. Những biện pháp phòng ngừa khác chủ yếu không được bỏ qua bên. Mặt khác, ý tưởng cho các loại thuốc kháng virus để phòng ngừa dấy lên nhiều vấn đề, nhất là xã hội.”
Chủ đề lớn khác được đề cập ở Rome là vai trò của cắt bao quy đầu trong đấu tranh chống lại sida. Lần đầu tiên, một nghiên cứu-hành động (recherche-action), nhằm áp dụng những kết quả của nghiên cứu trong “ đời sống thật sự ”, đã cho thấy rằng việc cắt bao quy đầu cho phép hạ tỷ lệ nguy cơ bị nhiễm bởi virus sida 76% ở những người đàn ông. Công trình nghiên cứu này của ANRS, được tiến hành bởi Bertran Auvert, thuộc Inserm, đã được thực hiện trong bidonvile d’Orange Farm, trong ngoại ô của Johannesburg, ở đây nhiễm trùng đã đạt những mức đặc biệt cao : ở tuổi 35-39, 40% những người đàn ông không được cắt bao quy đầu bị nhiễm bởi VIH, và 45% các phụ nữ. Sau một chiến dịch cổ động tích cực, hơn 20.000 người đàn ông đã đến để được cắt bao quy đầu trong những trụ sở được thiết lập dành cho nghiên cứu. Trên một mẫu được trắc nghiệm gồm 1000 người, một nửa được cắt bao quy đầu, còn nửa kia thì không, các nhà nghiên cứu đã chứng thực rằng với cùng hành vi sinh dục (comportement sexuel) (sử dụng các bao dương vật, các partenaire), trong nhóm được cắt bao quy đầu tỷ lệ bị nhiễm trùng ít hơn 76%. “ Nếu trong cộng đồng này, trong thời kỳ đó, nếu không một người đàn ông nào đã được cắt bao quy đầu, tỷ lệ (số những trường hợp mới) của nhiễm trùng đối với VIH là 58% cao hơn ”, giáo sư Auvert đã nhấn mạnh như vậy. Tuy nhiên, đó là một chiến lược được thêm vào, phải được phối hợp với những biện pháp phòng ngừa khác và không nhất thiết thích ứng với những nước giàu, theo các nhà nghiên cứu.
Cuộc đấu tranh chống lại bệnh sida luôn luôn cần đến tài trợ : chỉ 6,6 triệu người được hưởng một điều trị trên thế giới, trong khi 15 triệu hết sức cần được điều trị trên 33 triệu người bị lây nhiễm.
(LE FIGARO 22/7/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 244 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (10/10/2011)
5/ BỆNH SIDA CHẲNG BAO LÂU NỮA SẼ ĐƯỢC PHÁT HIỆN NHỜ MỘT BIOPUCE !
Phát hiện bệnh sida và khoảng một chục bệnh nhiễm trùng khác trong vòng chỉ 20 phút và từ một giọt máu đơn giản ? Đó là điều được hứa hẹn bởi“ mChiap ”, một trắc nghiệm máu được sáng chế bởi Samuel Sia, giáo sư của Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Với kích thước của một carte de crédit, phòng xét nghiệm bé xíu có thể mang theo này phát hiện những protéine đặc trưng của các bệnh khác nhau qua những phản ứng hóa học trên những nanoparticule bằng vàng và bằng bạc. Một carte chứa nhiều puce và do đó có khả năng phân tích máu của nhiều bệnh nhân. Mặt khác, mỗi puce có thể phát hiện đồng thời nhiều loại nhiễm trùng khác nhau.“ Thiết bị được thiết kế để cho, trên cùng một carte, mỗi trắc nghiệm mang tính chất độc lập và không ảnh hưởng kết quả của những trắc nghiệm khác ”, Vincent Linder, một trong những đồng tác giả của công trình nghiên cứu đã xác nhận như vậy. Được trắc nghiệm trên nhiều trăm bệnh nhân ở Rwanda, “ mchip” cho những kết quả, dương tính hoặc âm tính, với một mức độ chính xác gần 100% đối với những nhiễm trùng do HIV và giang mai. Ưu điểm sau cùng : giá cả của nó. Tiềm năng có thể thương mãi hóa với giá từ 1 đến 3 dollar mỗi đơn vị, biopuce này mở ra những triển vọng chưa từng có trong công tác điều tra phát hiện đại trà trong những nước đang phát triển. Giai đoạn kế tiếp từ nay là thích ứng trắc nghiệm với virus của viêm gan B.
(SCIENCE ET VIE 10/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 252 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/12/2011)
10/ SIDA : PHUƠNG PHÁP MỚI ĐỂ LÀM GIẢM NHẸ NHỮNG BÓ BUỘC CỦA TAM LIỆU PHÁP.
BS Jacques Leibowitch, thầy thuốc, nhà nghiên cứu, giảng viên tại bệnh viện Raymond-Poincarré de Garches, tác giả của “ Pour en finir avec le sida ”, édition Plon.
Hỏi : Ngày nay ở Pháp, tần số của những người bị nhiễm bởi virus bệnh sida là gì ?
BS Jacques Leibowitch: 100.000 bệnh nhân đang được điều trị. Theo Viện theo dõi y tế, 7.000 đến 8.000 người bị nhiễm mỗi năm bởi virus HIV. Nhưng nhiều người khác, bị lây nhiễm mà không biết, tiếp tục truyền virus.
Hỏi : Những kết quả của tam liệu pháp (trithérapie) hiện nay đến đâu rồi ?
BS Jacques Leibowitch: Có nhiều phối hợp các thuốc chống virus (với 31 loại thuốc), mà ta có thể kê đơn thích ứng với mỗi cá thể, tùy theo những kết quả có được và mức độ dung nạp của mỗi người. Nhưng những điều trị này, mặc dầu chúng ngăn cản sự xuất hiện bệnh bằng cách phong bế virus, lại không giết chết nó. VIH, mặc dầu trở nên không thể phát hiện với điều trị, nhưng hoạt động trở lại ngay khi ngừng tam liệu pháp (trithérapie).Tùy theo trường hợp và tuổi tác, những người huyết thanh dương tính có được sự thuyên giảm nhiều chục năm.
Hỏi : Những tác dụng phụ nào đã khiến ông muốn cải thiện sự thoải mái của những bệnh nhân được điều trị tam liệu pháp.
BS Jacques Leibowitch : Việc phải theo đuổi điều trị hàng ngày và suốt đời, mà sự ngừng thuốc là một mối đe dọa khủng khiếp, tạo nên một gánh nặng về tâm lý. Vài bệnh nhân bảo là họ cảm thấy bị gò bó như thể bị cầm tù với lưỡi gươm Damoclès treo lơ lửng trên đầu. Protocole dùng thuốc mới ngày này cũng bao gồm những nguy cơ tuân thủ điều trị kém trong trường hợp có những biến cố làm đảo lộn cuộc sống (tang chế, mất việc, ly dị). Mặt khác, sự tích tụ lâu dài các loại thuốc tạo nên những nguy cơ bị các biến chứng mặc dầu chúng hiếm xảy ra : những vấn đề tim mạch, suy thận
Hỏi : Quan niệm về phương pháp mới của ông là gì ?
BS Jacques Leibowitch : Mục đích là làm giảm những bó buộc và những nguy cơ, đồng thời bảo tồn tính hiệu quả của tam liệu pháp hiện nay. Ta đã có thể quan sát thấy rằng virus, một khi không thể phát hiện được sau một năm điều trị cổ điển, cần nhiều ngày để tái hoạt động và tăng sinh. Kíp của chúng tôi căn cứ trên thời gian tiềm tàng này để cho cách quãng những lần uống thuốc, mỗi lần với cùng liều lượng và cùng loại thuốc.
Hỏi : Những thử nghiệm nào đã được thực hiện với protocole này ?
BS Jacques Leibowitch : Từ năm 2003, 70 bệnh nhân đã thuận theo protocole này. Trước hết, tất cả đã được điều trị trong một năm với một liệu pháp quy ước, cho đến khi virus không thể phát hiện được. Sau đó số lần dùng thuốc đã được giảm dần, mỗi 6 tháng, với nhịp độ dùng thuốc một ngày mỗi tuần. Sự giảm được thực hiện vô cùng chậm và thận trọng, với sự theo dõi rất nghiêm túc. Hôm nay, 30 bệnh nhân chỉ dùng thuốc hai lần mỗi tuần nhưng không gây nên một sự tái hoạt động nào của virus. Chúng tôi thu được cùng những kết quả với protocole cổ điển 7 ngày mỗi tuần. Phải nhắc lại rằng chúng tôi vẫn luôn luôn trong một thời kỳ thử nghiệm, mặc dầu không được chính thức công nhận, nhưng được cho phép vì lý do nghĩa vụ luận y khoa.
Hỏi : Một tạp chí khoa học phải chăng đã trình bày những kết quả của ông
?
BS Jacques Leibowitch : Những kết quả này đã được công bố trong tạp chí quốc tế sinh-y học “ Faseb Journal ” (Federation of American Societies for Experimental Biology). Tôi cũng đã trình bày những quan sát dương tính này nhân Hội nghị quốc tế mới đây về Sida.
Hỏi : Tóm lại, những lợi ích của việc làm nhẹ điều trị (allégement thérapeutique) này là gì ?
BS Jacques Leibowitch : Lợi ích lớn nhất là tâm lý. Đối với những bệnh nhân đang được nghiên cứu của chúng tôi, sự thay đổi này được xem như là một hình thức giải phóng. Vài người bệnh nói rằng họ cảm thấy ít bị tù túng với căn bệnh của mình. Lợi điểm khác : một sự tuân thủ điều trị tốt hơn nhiều. Trên bình diện sinh lý, có thể chịu ít hơn nhiều những tác dụng của một “ tủ thuốc nặng nề.”. Thí dụ trong 10 năm, một bệnh nhân với điều trị hai ngày mỗi tuần sẽ nhận tương đương 7 năm rưỡi các loại thuốc ít hơn so với một bệnh nhân khác được điều trị với tam liệu pháp cổ điển.
Hỏi : Vì những thử nghiệm của ông vẫn luôn luôn không được hợp thức hóa, thế thì những hy vọng của ông nằm ở đâu ?
BS Jacques Leibowitch : Mục đích của kíp nghiên cứu chúng tôi là thuyết phục được các chuyên gia và các cơ sở y tế đến lược họ tiến hành những nghiên cứu về protocole mới này, nhưng lần này phải được hợp thức hóa.
(PARIS MATCH 1/12 – 7/12/2011)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 256 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (23/1/2012)
5/ SIDA : THUỐC DÁN CHỐNG VIRUS (PATCH ANTIVIRAL)
Những điều trị chống virus bệnh Sida (VIH) có bất tiện là phải dùng thuốc viên : sự hấp thụ qua đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc trước tiên phải qua gan trước khi đến đích, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây ngộ độc gan. Một kíp nghiên cứu Hoa Kỳ ở Maryland đã quan tâm đến một thuốc kháng virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là một sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt, thuốc phong bế sự đi vào trong các tế bào của VIH ; mặt khác thuốc ức chế men cho phép nó hội nhập trong ADN của những tế bào bị nhiễm virus. Ưu điểm khác : thuốc có thể được phân phát bằng đường qua da, điều này đảm bảo sự cho thuốc đều đặn và lâu dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence với gan.. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một patch có thể phát ra một cách liên tục 96% thuốc trong một tuần. Thuốc mới này sẽ được trắc nghiệm ở các động vật và người.
(LE FIGARO 29/12/2011 – 4/1/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 273 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (2/7/2012)
8/ SIDA CÓ CÒN LÀ MỘT CĂN BỆNH CHẾT NGƯỜI ?
Dominique Costagliola
Epidémiologiste
Nhiễm trùng bởi HIV dẫn đến tình trạng suy giảm miễn dịch (immunodépression) (sụt giảm tỷ lệ của vài loại tế bào, những tế bào lympho CD4) và gây nên bệnh Sida (sự xuất hiện một trong 23 nhiễm trùng cơ hội hay những khối u liên kết với tình trạng suy giảm miễn dịch). Phải cần khoảng 8 năm sau khi bị nhiễm trùng bởi HIV để tỷ lệ CD4 trở nên dưới 200/mm3 và khoảng 10 năm để bệnh sida xuất hiện. Những phối hợp của các antirétroviraux được sử dụng để điều trị nhiễm trùng cho phép kiểm soát sự tăng sinh (réplication) của virus trong máu : điều đó kèm theo một sự gia tăng trở lại tỷ lệ CD4 và một sự giảm nguy cơ bị bệnh sida và tử vong. Ở Pháp, khoảng 110.000 người bị nhiễm bởi HIV đã được điều trị năm 2010 và 87% được điều trị bởi các antirétroviraux. Gần 90% các bệnh nhân được điều trị trong ít nhất 6 tháng đã có một charge virale được kiểm soát.
TÌNH HUỐNG RẤT TƯƠNG PHẢN
Trong bối cảnh này, tỷ lệ tử vong ở Pháp đi đến đâu rồi ? Tình huống rất là tương phản tùy theo các bệnh nhân và phần lớn tùy theo giai đoạn bệnh vào lúc chẩn đoán bệnh nhiễm trùng và tùy theo sự điều trị. Khoảng 1/3 bệnh nhân lúc được điều trị đã ở giai đoạn bệnh sida hay một nồng độ CD4 dưới 200/mm3. Thí dụ, 12,7% những bệnh nhân được điều trị khi đã bị bệnh sida chết trong vòng 4 năm, trong khi tỷ lệ tử vong chỉ 1,6% đối với những bệnh nhân được điều trị lúc tỷ lệ CD4 của họ trên 200/mm3.
Ở những người không dùng ma túy bằng đường tĩnh mạch, có tỷ lệ CD4 trên 500/mm3 được điều trị bằng antirétroviraux, tỷ lệ tử vong tương tự với tỷ lệ tử vong của dân thường.
Ở các phụ nữ trong cùng tình huống, khi được điều trị, ngay sau 3 năm, thời kỳ trong đó tỷ lệ CD4 lên trên 500/mm3. Đối với những bệnh nhân bắt đầu điều trị ở giai đoạn sida, nguy cơ tử vong trên nguy cơ của dân chúng nói chung, ngay cả khi tỷ lệ CD4 trở nên trên 500/mm3 sau khi được điều trị.
CÁC UNG THƯ VÀ CÁC BỆNH GAN
Người ta chết vì sao ? Những công trình nghiên cứu “ ANRS Mortalité ” được thực hiện năm 2000 và năm 2005 đã cho thấy rằng khoảng 1700 người bị nhiễm bởi HIV đã chết vào năm 2000, và 1830 vào năm 2005. Vào năm 2005, 36% những trường hợp tử vong được gây nên bởi một căn bệnh do sida, 17% bởi một ung thư (ngoài viêm gan), 15% do một bệnh của gan, 8% do một bệnh tim mạch và 5% do tự tử. Phần của những tử vong do những nguyên nhân này đã gia tăng giữa năm 2000 và 2005 và phần của những tử vong do bệnh sida đã giảm. Thật vậy, những bệnh nhân bị nhiễm bởi HIV, kể cả những bệnh nhân có charge virale được kiểm soát, có nhiều nguy cơ phát triển các ung thư, các bệnh tim mạch và những bệnh gan hơn so với dân thường.
Hy vọng sống (espérance de vie) của những người bị nhiễm HIV khi được điều trị là gì ? Một công trình nghiên cứu mới đây của Anh vừa cho thấy rằng, trong thời kỳ từ năm 1996 đến 2006, hy vọng sống của một người đàn ông 20 tuổi sống với HIV và được điều trị là 39,5 năm. Con số này là 50,2 năm đối với một phụ nữ. Đối với dân chúng nói chung, hy vọng sống được ước tính lần lượt là 57,8 và 61,6. Yếu tố “ CD4 ” ở đây còn có tính chất quyết định : một bệnh nhân 20 tuổi bắt đầu điều trị khi tỷ lệ CD4 dưới 100/mm3 có một hy vọng sống 37,9 năm. Con số này là 41 năm nếu các antirétroviraux được cho khi tỷ lệ CD4 giữa 100 và 200/mm3, và 53,4% khi tỷ lệ CD4 nằm giữa 200 và 350/mm3.
Tất cả những dữ kiện này nhấn mạnh rằng chẩn đoán nhiễm trùng HIV phải được thực hiện càng sớm càng tốt để hạn chế nguy cơ gây tử vong và rằng có thể hy vọng đạt được một hy vọng sống gần với mức trung bình khi điều trị không được bắt đầu ở một giai đoạn quá muộn của nhiễm trùng.
(LE FIGARO 28/11/2011)
9/ SIDA : MỘT LOẠI THUỐC ĐƯỢC TRẮC NGHIỆM ĐỂ PHÒNG NGỪA
Những điểm chủ yếu :
- Lần đầu tiên, một antirétroviral được sử dụng ở những người huyết thanh âm tính (séronégatif) để là giảm nguy cơ truyền bệnh.
- Thuốc này sẽ chỉ được sử dụng bổ sung những kỹ thuật phòng ngừa khác
- Thử nghiệm này gây dè dặt và thận trọng
Đó là một première trong thế giới phương tây : Cơ quan nghiên cứu bệnh Sida của Pháp đã phát động thử nghiệm đầu tiên sử dụng một loại thuốc antirétroviral như là một công cụ phòng ngừa bệnh.
Ta đã biết rằng điều trị những bệnh nhân có bệnh sida đã phát triển làm giảm tỷ lệ virus trong máu và làm giảm nguy cơ gây lây nhiễm đối với những người phối ngẫu. Từ vài năm nay, các antirétroviraux cũng được sử dụng như một điều trị dự phòng (phòng ngừa) sau khi bị tiếp xúc do tai nạn với virus của sida, hoặc sau một sự cố đối với bao dương vật, hoặc khi bị hiếp dâm trong đó nạn nhân không biết tác giả có huyết thanh dương tình hay không hoặc khi một nhân viên điều trị bị tiếp xúc lúc điều trị bệnh nhân. Các thuốc antirétroviraux làm giảm một cách đáng kể nguy cơ lây nhiễm và Bỉ là một trong những nước đầu tiên bồi hoàn điều trị này cho bệnh nhân.
Ở đây đó là một sự sử dụng mới những loại thuốc antirétroviraux : Nó sẽ được đề nghị cho 300 người tình nguyện, những người đàn ông và những transsexuel huyết thanh âm tính có những quan hệ tình dục với những người đàn ông không sử dụng một cách hệ thống một bao dương vật (préservatif), với ít nhất hai partenaire sexuel khác nhau trong 6 tháng trước khi tham gia vào thử nghiệm ”, BS Bruno Spire, trưởng kíp của Inserm đang tiến hành thử nghiệm này đã giải thích như vậy. “ Thử nghiệm so sánh hai nhóm, một nhóm sẽ nhận một biothérapie antirétrovirale, nhóm kia một placebo. Những loại thuốc này sẽ không được dùng liên tục, nhưng theo nhu cầu, trong thời kỳ hoạt động sinh dục. Những người tham gia sẽ bắt đầu dùng thuốc trước những giao hợp, và chấm dứt sử dụng sau thời kỳ hoạt động sinh dục ”.
Những người chủ xướng thử nghiệm đã dự kiến rằng mọi người tham dự, dầu thuộc nhóm nào, sẽ được đề nghị một biện pháp phòng ngừa tăng cường : phân phát các túi dương vật, điều tra phát hiện đều đặn HIV và những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, tiêm chủng chống lại các bệnh viêm gan A và B. Những người tham gia có thể nhận nếu họ muốn những lời khuyên cá thể hóa về phòng ngừa.
Vậy ý tưởng là sử dụng thuốc như thành trì chống lại sự lây nhiễm. Điều đó đã được trắc nghiệm, nhưng với những kết quả không hoàn hảo : vào tháng 7 2010, “ Le Soir ” đã báo cáo những kết quả của một thử nghiệm được tiến hành ở Nam Phi, đã cho thấy rằng sự sử dụng một gel chứa một antirétroviral làm giảm 39% nguy cơ nhiễm trùng. Một thử nghiệm khác, thử nghiệm duy nhất được tiến hành ở những người đồng tính luyến ái, ở Nam Mỹ và Thái Lan, đã cho thấy rằng nguy cơ lây nhiễm được giảm 44% ở những người tình nguyện theo một điều trị thường trực. Tính hiệu quả tương đối của nó dường như do sử dụng điều trị mà không quên.
Những tỷ lệ này vẫn khiêm tốn, rất xa với những tỷ lệ mà một kỹ thuật “an toàn ” phòng ngừa chống lại nhiễm trùng sẽ đề nghị. Chính vì vậy những người chủ xướng thử nghiệm này vẫn rất thận trọng về tính hiệu quả khả dĩ của loại chiến lược này nhằm làm giảm nguy cơ nhiễm trùng, nhưng cho rằng phải đánh giá xem nó có thể được thêm vào những kỹ thuật hiện có hay không : “ Chính nhờ phối hợp những phương tiện phòng ngừa mà ta sẽ có thể kềm chế được dịch bệnh HIV, bằng cách sử dụng những phương tiện mà tính hiệu quả đã được chứng minh, như túi dương vật, và bằng cách đánh giá lợi ích của công cụ mới như chiến lược này. Đó là vai trò của chúng tôi tiến hành những nghiên cứu này ”, GS Jean-François Delfraissy, giám đốc ANRS đã giải thích như vậy. “ Nghiên cứu cần thiết chống lại bệnh sida phải tiến triển và phải chào đón sự kiện thử nghiệm này được tiền hành, Thierry Martin, giám đốc Plateforme Prévention sida đã phát biểu như vậy. Nhưng vẫn phải thận trọng, nhất là đối với nguy cơ do sự kiện những người tham dự có thể cảm thấy được bảo vệ chống lại sự lây nhiễm. Tỷ lệ giảm nguy cơ 30 hay 40%, đó là khiêm tốn so với những phương tiện làm giảm khác. Mặt khác, họ không nên làm gia tăng nguy cơ của mình do dựa vào tính hiệu quả của điều trị. Ngoài ra điều trị này có một phí tổn, khoảng 600 euro mỗi tháng, cao hơn nhiều phí tổn của một túi dương vật, lại hiệu quả hơn nhiều. Không sử dụng bao dương vật, đó cũng là tiếp xúc với những bệnh lây nhiễm đường sinh dục khác, để chống lại chúng thuốc antirétroviral không có tác dụng bảo vệ ”. Nhà chuyên gia phòng ngừa cũng tự hỏi về những tác dụng phụ khả dĩ của điều trị, cũng như khả năng đề kháng gia tăng của virus đối với thuốc nếu chiến lược này một ngày nào đó được áp dụng trên một quy mô lớn.
(LE SOIR 5/1/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 280 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (13/9/2012)
7/ PHÁT HIỆN HIV : MỘT AUTOTEST Ở HOA KỲ
FDA, cơ quan chính phủ của Hoa Kỳ, vừa cho phép thương mãi hóa một trắc nghiệm tự làm lấy (autotest) phát hiện nhanh virus của bệnh sida (OraQuik). Mọi người Mỹ đều sẽ có thể mua tự do trong các hiệu thuốc và drugstore ngay tháng 10 sắp đến với giá 17,50 dollars (14 euro). OraQuick cho kết quả trong 20 đến 40 phút, chỉ cần lấy nước miếng ở lợi răng. Trắc nghiệm này đáng tin cậy trong 99,98% các trường hợp khi người thử không bị lây bệnh và 92% khi họ bị nhiễm sida. Lý lẽ khiến FDA bật đèn xanh chủ yếu là do sự kiện rằng Hoa Kỳ có 1,2 triệu người bị lây nhiễm, trong đó 20% không biết là mình bị huyết thanh dương tính.
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 283 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (11/10/2012)
Bệnh giang mai theo Girolamo Fracastor, thi sĩ và thầy thuốc, trong Syphilis Sive Morbus Gallicus (1530)
“ La peau de toutes parts se diapre d’ulcères,
Le visage et le sein sont horribles à voir ;
De l’âcre et lourd fluide, immonde réservoir,
Sur le corps douloureux des pustules formées,
Surgissent, sous l’aspect de glandes enflammées,
Qui bientôt entrouvrant leur cratère repu,
Jette un jus visqueux teint d’un sang corrompu.
En même temps, le mal qui sort par chaque pore,
S’enfonce et prend racine en ce corps q’il dévore.”
CÁC NHÀ GIẢ KIM (ALCHIMISTE) LÀM GIÀU
Với rất nhiều phí tổn người ta cho mang đến bois de gaic, một loại cây nhỏ từ Trung Mỹ, để điều trị các ông lớn của thế giới này : François đệ nhất, Charles Quint hay giáo hoàng Alexandre VI Borgia. Rồi trước sự vô hiệu của phương thuốc, các thầy thuốc hướng về các muối thủy ngân, được cho bằng cách xoa (friction) hay xông (fumigation). Những tác dụng của điều trị, rất độc, thật là tai hại, ngoại trừ đối với các nhà luyện kim, lại trở nên giàu có. Trong khi đó căn bệnh mất tính độc lực để biến thành một dạng bệnh giảm nhẹ hơn mà ta biết ngày nay. “ Những mầm bệnh ban đầu đưa đến sự tử vong nhanh chóng của bệnh nhân được loại bỏ khá nhanh, nhường bước cho những giống gốc ít độc lực hơn nhưng có khả năng lan truyền hơn ở loài người ”, GS Berche đã giải thích như vậy.
Mặc dầu những sai lầm nghiêm trọng, như chủng tréponème hay tác nhân gây bệnh sốt rét cho những người bị bệnh giang mai, y khoa sau cùng sẽ bắt đầu ghi điểm vào đầu thế kỷ XX. Vào năm 1905, tréponème pâle được nhận diện bởi hai nhà bác học người Đức Fritz Schaudinn và Erich Hoffmann. 5 năm sau, cha đẻ của hóa học liệu pháp, người Đức Paul Ehrlich, hiệu chính loại thuốc đầu tiên hiệu quả chống bệnh giang mai : Salversan, dẫn xuất của Arsenic. Nhưng độc tính của nó, mặc dầu ít hơn rất nhiều so với độc tính của thủy ngân, vẫn tạo vấn đề. Ngoài ra, trái với pénicilline, nó không chữa lành những bệnh nhân ở giai đoạn cuối (stade tertiaire).
Mang lại cú đấm sát thủ, John Mahoney là “ người chủ chốt quan trọng sau cùng của động tác điều trị này chống lại bệnh giang mai ”, GS Berche đã viết như vậy. Nhờ ông, cơn ác mộng y tế, gây nên bởi sự va chạm giữa hai thế giới, trong đó dân chúng, cách xa nhau từ nhiều thiên niên kỷ, đã trao đổi cho nhau những mầm bệnh của tử thần, đối với đại đa số những người đương thời của chúng ta, chỉ còn là một kỷ niệm xa xôi.
(LE FIGARO 14/8/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 286 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH (19/11/2012)
6/ SIDA : VACCIN HỨA HẸN Ở PHỤ NỮ.
Morgane Bomsel, Nữ giám đốc nghiên cứu ở CNRS, giải thích tác dụng của vaccin mới này mà những kết quả đầu tiên rất là đáng phấn khởi.
Hỏi : Ở Pháp, hiện nay bao nhiêu người bị nhiễm bởi virus Sida ?
Morgane Bomsel : Ta thống kê 150.000 trường hợp huyết thanh dương tính (với 6000 trường hợp mới mỗi năm, trong đó 1700 trường hợp tử vong) nhưng thêm 40.000 đến 50.000, có lẽ không hay biết mình bị huyết thanh dương tính. Mặc dầu không có triệu chứng, những người này có thể truyền virus. Mặc dầu những chiến dịch phòng ngừa, những con số này đã không giảm từ năm 2009.
Hỏi : Trong đất nước chúng ta, những loại người nào thường bị ảnh hưởng nhất ?
Morgane Bomsel : Trong 50% các trường hợp, đó là những phụ nữ bị lây nhiễm khi giao hợp không được bảo vệ, và 20% những người đồng tính luyến ái có huyết thanh dương tính.
Hỏi : Vì những lý do gì số những trường hợp huyết thanh dương tính đã không hạ xuống ?
Morgane Bomsel : Với sự xuất hiện của tam liệu pháp (trithérapie), bệnh sida đã trở nên tầm thường hóa. Ngày nay bệnh sida quá thường được xem như là một bệnh mãn tính, do đó gây nên một sự giảm cảnh giác. Vấn đề khác : những người trẻ có thể không muốn khám phá tình dục của họ với một bao dương vật.
Hỏi : Từ lâu người ta đã tìm cách hiệu chính một vaccin nhưng không thành công. Tại sao bị những thất bại này ?
Morgane Bomsel : Có 3 lý do. 1. Virus sida rất dở chứng : nó thay đổi hình dạng mỗi khi tăng sinh. Dẫu sao, virus vẫn giữ vài trong số những thành phần bền vững của nó. 2. Virus sida có khả năng trốn, do đó không thể phát hiện nó để loại bỏ nó. 3. Virus đi qua niêm mạc, ở đó nó tạo nên những ổ dự trữ (réservoir de virus), trước khi đi vào máu. Vậy có hai giai đoạn trong quá trình nhiễm trùng. Thế mà, cho mãi đến nay, tất cả các vaccin thử nghiệm đều nhằm ức chế virus ở máu, vào giai đoạn 2, do đó thất bại.
Hỏi : Hiện này bà đang tiến hành một công trình nghiên cứu ở phụ nữ với một loại vaccin mới. Cơ chế tác dụng của nó là gì ?
Morgane Bomsel : Chúng tôi đã nghiên cứu một nhóm các phụ nữ đã từng có những giao hợp không được bảo vệ với những bạn đường phối ngẫu huyết thanh dương tính (partenaire séropositif), và đã đề kháng với nhiễm trùng. Chúng tôi đã có thể chứng minh rằng tất cả những phụ nữ này đều mang, trong các chất dịch âm đạo của họ, những kháng thể đặc hiệu có khả năng phát hiện virus và phong bế không cho virus đi vào trong các niêm mạc. Các kháng thể là những tác nhân được chế tạo bởi cơ thể phản ứng lại với sự tấn công của một yếu tố lạ và có khá năng loại bỏ nó. Chúng tôi đã phân tích những kháng thể này trong phòng thí nghiệm và khám phá rằng chúng nhận biết những yếu tố của virus vẫn còn ổn định sau khi biến hóa và chúng có thể phong bế sự đi vào của virus. Vậy chúng tôi đã tìm cách hiệu chính một vaccin có thể tạo lại những dịch tiết âm đạo đề kháng này. Những thử nghiệm đầu tiên của chúng tôi trên thỏ cái đã tỏ ra rất thỏa mãn. 5 phụ nữ đã được tiêm chủng và 6 phụ nữ khác đã nhận một placebo : 6 tháng sau khi tất cả bị nhiễm trùng, chỉ có những phụ nữ được tiêm chủng là được bảo vệ.
Hỏi : Bây giờ bà đã chuyển qua những thử nghiệm ở phụ nữ. Protocole là gì ?
Morgane Bomsel : Cộng tác với société Mymetics, một công trình nghiên cứu đã được tiến hành, bắt đầu với trắc nghiệm tính vô hại của vaccin ở những phụ nữ lành mạnh trong một quần thể có nguy cơ thấp. Sau khi đã chứng minh sự vắng mặt độc tính và khả năng của vaccin sinh ra những kháng thể chống lại virus, chúng tôi đã tìm cách chứng minh xem những kháng thể này có khả năng phong bế virus hay không, như những kháng thể được phát triển bởi những phụ nữ đề kháng. Nhưng vì ta không thể gây nhiễm các phụ nữ trong thí nghiệm, nên những công trình này đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm ex vivo với những mẫu nghiệm niêm mạc âm đạo. Kết quả : thử nghiệm đã thành công trong các dịch tiết được trắc nghiệm và vaccin đã tỏ ra hoàn toàn có hiệu quả ! Virus đã không có thể đi vào trong niêm mạc.
Hỏi : Giai đoạn sắp đến sẽ là gì ?
Morgane Bomsel : Giai đoạn sắp đến nhằm tiêm chủng ở châu Âu 200 phụ nữ có nguy cơ và có những giao hợp không được bảo vệ. Những phụ nữ này sẽ được chia thành hai nhóm : một nhóm sẽ được tiêm chủng, còn nhóm kia thì không. Những kết quả sẽ thu được 3 năm sau. Nhưng để tiến hành công trình nghiên cứu này, chúng tôi thiếu những phương tiện tài chánh. Các quà biếu sẽ là mot hỗ trợ đáng kể.
(PARIS MATCH 8/11 – 14/11/2012)
7/ SIDA : CÁC THUỐC CHỐNG VIRUS HIV ĐƯỢC CHO BẰNG THUỐC DÁN (PATCH)
Những điều trị chống virus sida HIV có bất tiện là phải dùng thuốc uống. : sự hấp thụ bằng đường tiêu hóa hàm ý rằng thuốc phải qua gan đầu tiên trước khi đến đích điều trị, điều này làm giảm tính hiệu quả và có thể gây độc cho gan. Một kíp các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ trong tiểu bang Maryland đã quan tâm đến một thuốc chống virus mới, pyrimidinedione, mà một trong những ưu điểm là sinh liệu pháp (biothérapie). Một mặt nó phong bế sự đi vào trong các tế bào của virus HIV, mặt khác thuốc ức chế enzyme cho phép virus HIV hội nhập vào ADN của những tế bào bị nhiễm. Lợi điểm khác : thuốc có thể được cho bằng đường qua da, điều này bảo đảm thuốc được cho đều đặn và kéo dài trong tuần hoàn đồng thời tránh mọi interférence trong gan. Những công trình nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trên da người đã cho thấy rằng một thuốc dán (patch) có thể phát ra 96% thuốc một cách liên tục trong một tuần. Thuốc dán này sẽ được trắc nghiệm trên các động vật và ở người.
(PARIS MATCH 29/12/2011- 4/1/2012)
THỜI SỰ Y HỌC SỐ 295 - BÁC SĨ NGUYỄN VĂN THỊNH( 05/02/2013 )
1/ NHỮNG BỆNH LÂY TRUYỀN BẰNG ĐƯỜNG SINH DỤC : CÁC CHLAMYDIAS NHỮNG YẾU TỐ GÂY VÔ SINH.
3% các thanh niên từ 18 đến 25 tuổi bị nhiễm, trong khi điều trị rất là đơn giản.
Không phải là một sự tình cờ khi Viện quốc gia phòng ngừa và giáo dục y tế (Impes) Pháp đã quyết định phát động một chiến dịch phát hiện chlamydia, qua Internet, từ 3 tháng 9 đến 15 tháng 10 năm 2012 : “ Chúng tôi tiếp nhận, một cách cổ điển, một điểm cao các phụ nữ trẻ đến làm xét nghiệm vào tháng 9, hoặc bởi vì họ đánh giá đã chịu những nguy cơ vào mùa hè, hoặc bởi vì bạn đường phối ngẫu của họ có chất dịch chảy ra từ niệu đạo, hoặc bởi vì họ lo ngại vì một vấn đề khác : thí dụ các bệnh nấm (mycoses) ”, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa (bệnh viện mới Port-Royal, Paris) đã giải thích như vậy.
Những phụ nữ trẻ này sau khi được khám đã nhận một thông tin hoàn chỉnh nhân cơ hội này : “ Chúng tôi giải thích cho họ rằng chlamydia là một vi khuẩn thường nhất tiến triển một cách im lặng (trong hơn hai trường hợp trên ba, không có một triệu chứng nào ở phụ nữ) trước khi được phát hiện bởi một viêm vòi trứng (salpingite), có thai ngoài tử cung hay thường hơn là một tình trạng vô sinh (stérilité). Ngay cả đó là một trong những nguyên nhân đầu tiên của vô sinh, vậy đó không phải là vô hại. Chúng tôi cũng nói với họ rằng sự phát hiện rất là đơn giản : mẫu nghiệm được lấy từ một écouvillon được đưa vào trong âm đạo của các cô gái và từ nước tiểu ở cậu con trai, và rằng trong trường hợp kết quả dương tính, một điều trị kháng sinh cho cả hai partenaire cho phép giải quyết vấn đề.”, BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.
UN DEPISTAGE PAS PRIS EN CHARGE A 100%
Những lý lẽ này đánh trúng hồng tâm : phần lớn các phụ nữ trẻ này chấp nhận điều tra phát hiện và chính như thế mà 7000 trường hợp mới những nhiễm trùng chlamydia được chẩn đoán mỗi năm ở Pháp. “ Ta ước tính rằng 3% các phụ nữ trẻ từ 18 đến 25 bị nhiễm trùng, nhưng trong số những phụ nữ có nhiều bạn đường phối ngẫu, những tỷ lệ lây nhiễm có thể đạt 10% ”, GS Michel Kanier, giám đốc trung tâm lâm sàng và sinh học các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, bệnh viện Saint-Louis đã ghi nhận như vậy.
Chỉ có điều : “ Làm sao công tác phát hiện này lại không được đảm nhận 100% bởi Sécurité sociale, vài phụ nữ trẻ, có lẽ những phụ nữ cần nhất, không đủ điều kiện để tiếp cận sự phát hiện này. Để giải quyết vấn đề này, có những thỏa thuận địa phương với vài trung tâm phát hiện nặc danh và miễn phí (CDAG : centre de dépistage anonyme et gratuit) như những trung tâm ở Paris đảm trách miễn phí sự phát hiện chlamydia ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, nhưng không phải đều như thế ở khắp nơi trên nước Pháp. Khi đó còn lại giải pháp là đến một trung tâm thông tin, phát hiện, chẩn đoán các bệnh nhiễm trùng lây bằng đường sinh dục (IST : infections sexuellement transmissibles), nhưng những trung tâm như thế không có nhiều. Tuy vậy có một sự nhất trí rất rõ ràng về phía các chuyên gia : mọi người trong tình trạng hoạt động sinh dục (sexuellement active) đã không có được một sự bảo vệ tối ưu (nhờ đến các bao dương vật trong 100% các trường hợp) phải làm một trắc nghiệm phát hiện (test de dépistage), nhất là khi có một sự thay đổi bạn đường phối ngẫu (partenaire). Điều này đủ bởi vì trái với các lậu cầu khuẩn và với tréponème (vecteur truyền bệnh giang mai), sự lan truyền chlamydia qua đường miệng rất hiếm ”, GS Michel Janier đã nhấn mạnh như vậy.
MỘT “ HOME TEST ” ĐẾN Ở PHÁP
Đối với những kẻ ưa thích những phát hiện “ ở nhà ” hơn, được cho là kín đáo hơn, tin vui : đó là một “ home test ” xuất hiện ở Pháp, như điều đã thường được thực hiện trong những nước khác của Liên hiệp châu Âu. Ưu điểm chính : không cần đến phòng xét nghiệm với một y lệnh. Bất tiện chính : trắc nghiệm này không được bồi hoàn bởi Sécurité sociale. Ngoài ra, trong trường hợp kết quả dương tính, dẫu sao cũng phải có một ordonnance để được kê đơn một điều trị kháng sinh, cho mình và cho partenaire, mặc dầu người bạn đường phối ngẫu này không có một triệu chứng nào và đã được làm một test với kết quả âm tính. Thật vậy, không gì nói được rằng người bạn đường phối ngẫu này không ở trong thời kỳ ủ bệnh và do đó anh ta sẽ không là nguồn lây nhiễm trong những này sau đó ”, GS Janier và BS Bensimhon đã nhấn mạnh như vậy.
Hiện nay điều trị chủ yếu dựa vào, đối với người đàn ông cũng như đối với người đàn bà, uống 1 liều duy nhất 4 viên azithromycine, một kháng sinh họ macrolides. Và các giao hợp phải bị cấm chỉ trong 1 tuần, thời gian để thuốc tác dụng. “ Điều đó rất thực tiễn, nhưng vài trường hợp đề kháng được quan sát trên thế giới làm cho các chuyên gia bắt đầu tự hỏi không biết có hợp lý trở lại một điều trị 7 ngày, bằng một kháng sinh thuộc họ cyclines hay không. Khi đó một vấn đề khác được đặt ra : vấn đề tuân thủ tồi điều trị. Như thế, 70% những người được điều trị trong 7 ngày thỉnh thoảng quên uống kháng sinh hay dừng quá sớm bởi vì họ không có (hay không còn nữa) các triệu chứng ”, GS Janier lấy làm tiếc như vậy.
Sau cùng thêm vào một vấn đề nữa : hoặc vì xấu hổ (không đúng) hay vì sợ gieo nghi ngờ vào lòng chung thủy của mình, rất nhiều người bị nhiễm thấy tốt hơn là không nói gì hết. Hậu quả : mặc dầu những chiến dịch thông tin, các con số nhiễm trùng bởi chlamydia vẫn ổn định.
(LE FIGARO 8/10/2012)
2/ CÁC LẬU CẦU KHUẨN NGÀY CÀNG ĐỀ KHÁNG.
Đó là nhiễm trùng chủ yếu đang tăng cao ở những người đàn ông có những quan hệ tình dục với những người đàn ông cũng như ở những người dị tính luyến ái (hétérosexuel), lý do là một sự lơi lỏng trong việc nhờ đến một cách hệ thống những bao dương vật và do việc thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral). “ Thật vậy, lậu cầu khuẩn rất có thể tọa vị trong họng, nhưng không cho một triệu chứng nào, GS Michel Janier (bệnh viện Saint-Louis) đã nhấn mạnh như vậy. Và ngay cả trong trường hợp nhiễm trùng sinh dục, nó có thể tiến triển một cách im lặng trong một thời gian lâu ở phụ nữ, trước khi gây một tình trạng vô sinh (stérilité). Sau cùng chỉ ở người đàn ông mà nhiễm trùng khó mà không được nhận biết, vì lậu cầu gây nên sự xuất hiện triệu chứng đi tiểu rát và mủ niệu (do đó có tên “ đái nóng ” (chaude-pisse). Sự xuất hiện những trắc nghiệm chẩn đoán mới rất đáng tin cậy (những trắc nghiệm PCR dựa trên sinh học phân tử khuếch đại), cho phép tìm kiếm cùng lúc chlamydia và lậu cầu, vậy đó là một tin vui, nhưng hiện nay, những trắc nghiệm này chưa được công nhận bởi Sécurité sociale và do đó chỉ có thể thực hiện ở bệnh viện.”
Do không được phát hiện đủ, nhất là ở phụ nữ và ở những người thực hành làm tình qua đường miệng (sexe oral), lậu cầu khẩu phát triển tốt. Còn đáng lo ngại hơn : trong khi cho đến nay vi khuẩn này nhạy cảm 100% đối với ceftriaxone (Rocephine) (một kháng sinh thuộc céphalosoprine thế hệ thứ ba), nhiều trường hợp đề kháng đã được mô tả trên thế giới, gồm cả ở Pháp. “ Trong nhiều năm, một liều 125 mg là đủ để trừ khử các lậu cầu khuẩn, rồi đã phải chuyển qua 250 mg. Hôm nay, ngay cả cần đến 500mg và ở vài bệnh nhân điều đó không còn đủ nữa. Thế mà chúng ta không có giải pháp thay thế thỏa mãn. Thật vậy, đúng là có một kháng sinh cũ còn có thể có tác dụng (gentalline), nhưng loại thuốc này có tiềm năng độc hại đối với thận, tai và do đó khó sử dụng. Sau cùng hai loại kháng sinh khác đầy hứa hẹn hiện đang được chế tạo, nhưng chúng cũng sẽ phải được sử dụng một cách thận trọng và chỉ hiện diện dưới dạng thuốc tiêm ”, GS Janier đã xác nhận như vậy. Ý kiến này được chia xẻ bởi GS Jean-Paul Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trùng thuộc CHU de Grenoble. Ông này lo sợ tính chất đa đề kháng của các vi khuẩn đối với các kháng sinh và không chỉ trong lãnh vực các bệnh nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.
ÍT SỬ DỤNG HƠN CÁC BAO DƯƠNG VẬT
Sau cùng, nhiều nhiễm trùng lậu cầu khuẩn hơn, điều này cho thấy trước sự gia tăng của sự lây truyền những bệnh lây nhiễm qua đường sinh dục nghiêm trọng hơn như VIH hay viêm gan B, do việc lơi lỏng sử dụng các bao dương vật. “ Ở các phụ nữ đã gia tăng những hành vi có nguy cơ (comportements à risque), chúng tôi không do dự đề nghị một điều tra phát hiện toàn bộ những bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục chính, từ một mẫu nghiệm máu (đối với VIH, viêm gan B và giang mai), từ một bệnh phẩm âm đạo (chlamydia, lậu cầu) và từ một frottis nhằm tìm kiếm những dấu hiệu gián tiếp nhiễm trùng papillomavirus, BS Joelle Bensimhon, thầy thuốc phụ khoa thuộc bệnh viện mới Port-Royal (Paris), đã nhận xét như vậy. Chúng tôi cũng lợi dụng điều đó để nhắc lại với họ rằng préservatif nữ cũng hiệu quả như préservatif nam để phòng ngừa phần lớn những trường hợp nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục.”
(LE FIGARO 8/10/2012)
3/ NHỮNG NHIỄM TRÙNG NÀY LÀM DỄ BỆNH SIDA
Mỗi năm ở Pháp, 6700 người bị lây nhiễm bởi virus bệnh sida, thường nhất qua đường sinh dục. Những con số của bệnh ở Pháp vì gần như ổn định, nên điều đó có nghĩa là sự bảo vệ bằng các bao dương vật vẫn không đủ.
“ Sự kiện bệnh sida ngày nay được xem như một bệnh mãn tính, được điều trị, có lẽ đã góp phần đưa đến một sự lơi lỏng tinh thần cảnh giác. Tuy vậy phải nhận thức rõ ràng những điều trị này không phải là không có những tác dụng phụ và như thế thật là chán ngắt khi phải uống thuốc mỗi ngày. Cũng vậy, đúng là có một điều trị cấp cứu được đề nghị ở bệnh viện cho những người đã có một giao hợp có nguy cơ với một người huyết thanh dương tính, nhưng phải hành động nhanh và điều trị này không phải là vô hại, GS Stahl, trưởng khoa bệnh nhiễm trung thuộc CHU de Grenoble, đã nhấn mạnh như vậy. Còn về những hứa hẹn vaccin, phải dè chừng những tác dụng loan báo : ta còn rất lâu mới đề nghị một cách thường quy một vaccin và sẽ còn cần nhiều năm trước khi đạt được điều đó ”, GS Stahl đã nói tiếp như vậy.
Nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida càng quan trọng khi bệnh nhân vốn đã bị một nhiễm trùng lây nhiễm bằng đường sinh dục khác, như herpès sinh dục, than ôi lại khá thường gặp. Hai triệu người Pháp mang virus này, nguy cơ lây nhiễm đối với partenaire tối đa vào lúc một cơn bộc phát các mụn nước (vésicule). Đúng là có một điều trị kháng virus (aciclovir) được cho trong trường hợp các cơn bộc phát thường xuyên, nhưng không đủ để phòng ngừa nguy cơ truyền nhiễm. Do đó mang bao dương vật là điều không thể thay thế được.
Cũng như thế để tránh sự lây truyền của một bệnh viêm gan B, một bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục khác được biết rõ là cũng làm dễ nhiễm trùng bởi HIV. Có nhiều bạn đường phối ngẫu hay là người nghiện ma túy là hai nguyên nhân chính gây nhiễm trùng bởi virus của viêm gan B. Vào giai đoạn viêm gan triệu chứng lây nhiễm, những điều trị với các antirétroviraux cho phép ngăn cản sự xuất hiện của một ung thư gan đối với bệnh nhân và làm giảm rất nhiều những nguy cơ lây nhiễm partenaire. Nhưng để tránh mọi nguy cơ, tốt nhất là được tiêm chủng, thế mà dân Pháp đã trì chậm rất nhiều trong lãnh vực này ”, BS Stahl đã nhấn mạnh như vậy. Một lý do tốt để nghĩ đến phát hiện bệnh : Nói chung sự phát hiện bệnh được đề nghị vào lúc mang thai hay lúc phẫu thuật.
NHỮNG THƯƠNG TỔN ĐÔI KHI GÂY CHẾT NGƯỜI.
Sau cùng, sự hiện diện của một bệnh lây nhiễm đường sinh dục nguồn gốc vi khuẩn cũng làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm bởi virus của bệnh sida. Vậy đó là trường hợp đối với chlamydia, lậu cầu khuẩn, nhưng cũng đối với bệnh giang mai mà ở Pháp không còn được nghe nói đến nữa cho đến những năm 2000, trước khi tái phát trở lại, nhất là trong giới đồng tính luyến ái. Khởi đầu bệnh giang mai có thể gây nên một chancre (vết loét) không đau, rồi vài tuần sau, nổi ban da và hội chứng cúm và, nếu không được điều trị kháng sinh, những thương tổn của não, các dây thần kinh, của tim, đôi khi gây chết người. Thế mà cũng giống như lậu cầu khuẩn, tréponème gây bệnh giang mai có thể sống sót trong họng mà không được nhận biết. Vậy về chiến lược phát hiện các bệnh lây nhiễm bằng đường sinh dục, đất nước của chúng ta (Pháp) còn có nhiều điều để làm.
(LE FIGARO 8/10/2012)
5/ SIDA : TRIỄN VỌNG VACCIN MỚI
Ở khỉ, một vaccin bằng đường miệng trung hòa sự hoạt hóa của những tế bào bị nhiễm cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
PANDEMIE. Một vaccin chống virus gây bệnh sida hoàn toàn mới đã được hiệu chính bởi một kíp Pháp-Hoa, được lãnh đạo bởi GS Jean-Marie, thuộc đại học Paris-Descartes, và Louis Wei Lu, giám đốc nghiên cứu thuộc Institut de recherche pour le développement (IRD), ở Montpellier. Được trắc nghiệm trên mô hình động vật tương cận với người nhất, macaque, sự tiêm chủng này đã bảo vệ lâu dài 14 động vật trên 16 chống lại một nhiễm trùng bởi virus gây suy giảm miễn dịch của khỉ, tương đương ở động vật này, của virus sida hay VIH ở người.
PHUƠNG PHÁP ĐỘC ĐÁO
“ Công trình này, Olivier Schwartz, giám đốc của khoa siêu vi trùng học của Viện Pasteur đã xác nhận như vậy, là lý thú và đầy hứa hẹn. Có nhiều thử nghiệm khác về các ứng viên vaccin ở khỉ, nhưng ở đây phương pháp là độc đáo ”. Thật vậy, vaccin này không cần phải tiêm và có thể được cho một cách trực tiếp bằng đường miệng. Một cách tóm tắt, vaccin này trung hòa sự hoạt hóa của các tế bào bị nhiễm, cần thiết cho sự tăng sinh của virus.
Từ khi virus của bệnh sida được nhận diện vào năm 1983 bởi một kíp nghiên cứu của Viện Pasteur, Paris, những cố gắng to lớn đã được dành cho việc nghiên cứu một vaccin chống lại virus này. Tuy vậy, sau 187 thử nghiệm lâm sàng các vaccins, hơn 8 tỷ dollars đã được tiêu phí cho nghiên cứu, chủ yếu bởi recherche publique Hoa Kỳ, sự thất bại là hoàn toàn. Chỉ có 3 thử nghiệm lâm sàng có tầm cỡ đã được tiến hành, thử nghiệm đầu tiên, được gọi là VAX 004, vào năm 1998, đã chẳng mang lại kết quả gì ; thử nghiệm thứ hai, được mệnh danh STEP, đã phải dừng lại sớm vì cùng lý do ; thử nghiệm cuối cùng, RV144, đã được thực hiện ở Thái lan, trên một số lượng khổng lồ 16.000 người tình nguyện, đã thu được một sự giảm 30% những nhiễm trùng mà ta chưa biết một cách chính xác tại sao. Hiện nay, chỉ một thử nghiệm thuộc loại này vẫn đang còn được tiến hành ở Hoa Kỳ.
Một cách nghịch lý, những lý do của sự thất bại này được biết từ khởi thủy bởi các nhà nghiên cứu. Virus của bệnh sida có những đặc điểm duy nhất làm chúng không thể bị túm được một khi đã vào trong cơ thể. Protéine, ở bề mặt của màng tế bào virus sida, cực kỳ thay đổi từ con virus này đến con khác, làm nhầm lẫn những toan tính nhận biết bởi hệ miễn dịch. Lại càng đáng sợ hơn, virus nhắm và phá hủy những tế bào chủ yếu đối với đáp ứng miễn dịch, các tế bào lympho T4, cho phép trừ khử virus. Những virus sida có một yếu điểm mà Jean-Marie Andrieu và đồng nghiệp của ông Louis Wei Lu đã lợi dụng. Để sinh sản, HIV phải chờ cho tế bào mà nó gây nhiễm tự hoạt hóa. “ Bằng cách làm cho cơ thể có khả năng làm bất hoạt những tế bào bị nhiễm của nó, chúng tôi giết trong trứng nước mọi sự tăng sinh của virus ”, GS Andrieu đã nói rõ như vậy.
Một sự bất hoạt như thế được gây nên bởi các vi khuẩn ruột. Những vi khuẩn này hẳn phải gây nên một sự dung nạp của cơ thể của chúng ta đối với chúng. Thí nghiệm đã có thể tiến hành trên khoảng 100 con khỉ nhờ sự hỗ trợ của Viên y học nhiệt đới của Canton (Trung Quốc). Thí nghiệm nhằm cho ruột của các con khỉ tiếp xúc với những nồng độ rất cao của một giống gốc vi khuẩn với sự hiện diện của virus bệnh sida được làm bất hoạt.
Hy vọng của các nhà nghiên cứu là gây nên một sự dung nạp của hệ miễn dịch, cũng sẽ bao gồm virus hiện diện. 3 tháng sau, khi 8 con khỉ, sau khi đã được tiêm chủng và được làm lây nhiễm bởi những liều mạnh virus, không con nào đã bị nhiễm siêu vi trùng, trái lại với những con khỉ không được tiêm chủng, tất cả đều bị nhiễm virus. Hơn 1 năm sau, khi 8 con khỉ một lần nữa bị làm lây nhiễm, 7 con không có một con virus nào trong máu cũng như trong niêm mạc của chúng. “ 3 năm sau, tất cả những con khỉ này vẫn luôn luôn không bị nhiễm virus và khỏe mạnh, Jean-Marie Andrieu đã xác nhận như vậy. Và con khỉ duy nhất bị nhiễm virus, là con khỉ, trong những trắc nghiệm của chúng tôi, đã không phát triển dung nạp ”.
Các nhà nghiên cứu ngay cả cho thấy trong Cell Reports rằng sự tiêm chủng này vẫn có hiệu quả đối với một giống gốc khác của virus, bằng cớ một hiệu quả trung hòa tổng quát hơn của những tế bào bị nhiễm bởi hệ miễn dịch.
CHUYỂN QUA NGƯỜI
Hai bằng sáng chế đã được trình tòa nhân danh IDR, thuộc đại học Paris-Descartes và công ty Biovaxim, được thành lập với sự hỗ trợ tài chánh của một bệnh nhân tỏ lòng biết ơn đối với GS Jean-Marie Andrieu. Giai đoạn kế tiếp, chuyển sang người, tuy nhiên sẽ dành những điều không chắc chắn bởi vì, theo GS Jean
Daniel Lelièvre, phụ trách chương trình lâm sàng tiêm chủng ở ANRS (cơ quan nghiên cứu về bệnh sida và những viêm gan siêu vi trùng,“ virus người thay đổi nhiều hơn virus ở khỉ và mặt khác, các con khỉ macaque thường đề kháng với nhiễm trùng hơn so với người ”.
Trên phương diện thực hành, ngược lại, thí nghiệm dường như có thể tiếp cận. Việc gây nên sự dung nạp với vi khuẩn Lactobacillus phantarum đã cho thấy tính vô hại của nó ở người. Sự hấp thụ bằng đường miệng VIH được làm bất hoạt, được trắc nghiệm một cách rộng rãi ở khỉ, dường như không có một nguy cơ nào, mặc dầu Chính phủ Hoa Kỳ đã chưa cho phép sử dụng như là một vaccin phòng ngừa ở người. Sau cùng, vaccin này cũng có thể dùng để điều trị ở những bệnh nhân huyết thanh dương tính, bằng cách phong bế ở những bệnh nhân này khả năng tăng sinh của virus trong các tế bào bị nhiễm, điều này mang lại một giải pháp thay thế cho liệu pháp chống virus hiện đang sử dụng. Những thử nghiệm theo chiều hướng này ở người, sẽ được bắt đầu ngay năm này trong một nước châu Âu, sẽ cho thấy một cách nhanh chóng là triễn vọng mới của vaccin có tương lai hay không.
(LE FIGARO 24/1/2013)
6/ SIDA : MỘT VACCIN ĐIỀU TRỊ MỚI
Những thử nghiệm lâm sàng của một vaccin chữa bệnh (vaccin curatif) mới sẽ bắt đầu ở Marseille trên 48 người tình nguyện huyết thanh dương tính. Vậy đó không phải là một vaccin ngăn cản mắc bệnh, mà là một loại thuốc có khả năng tăng cường phòng vệ miễn dịch. Mục tiêu là một protéine được gọi tên là Tat (thay thế cho chữ “ transactivating ). “ Ở những người huyết thanh dương tính, protéine này đóng vai trò garde du corps của những tế bào bị nhiễm siêu vi trùng, GS Erwann Loret, người khởi xướng thí nghiệm ở Hôpital de la Conception, đã giải thích như vậy. Cơ thể của những bệnh nhân này không có khả năng nhận biết nó cũng không có khả năng trung hòa nó, điều mà vaccin được thử nghiệm sẽ cho phép.”
48 bệnh nhân huyết thanh dương tính và hiện đang được điều trị bởi tam liệu pháp (trithérapie) sẽ tham gia vào công trình nghiên cứu. Những kết quả sơ khởi đầu tiên được dự kiến từ nay đến 5 tháng nữa. Chính nhà nghiên cứu vẫn tỏ ra thận trọng. “ Đó không phải là hồi kết thúc của bệnh sida. Ngay cả đó không phải là khởi đầu của sự chấm dứt của bệnh sida.” Nhưng hôm qua, vài người đã loan báo “ première mondiale ”. Đúng như vậy về protéine này, nhưng rất quá đáng khi nói đến ý niệm “ vaccin chữa lành bệnh ” GS Jean-François Delfraissy, giám đốc cơ quan nghiên cứu Pháp về bệnh sida (ANRS), nói rằng “ từ 25 đến 26 công trình thử vaccin ” hiện đang được tiến hành trên thế giới. Vả lại những thử nghiệm trước đã chịu những thất bại quan trọng.
“ Phải thận trọng khi chúng ta đưa ra những thông điệp cho bệnh nhân ”, Jean François Delfraissy đã giải thích như vậy. Ông xác nhận rằng công cụ tiêm chủng chống lại HIV chưa hiện hữu mặc dầu đã nhiều năm nghiên cứu. Hiện nay, 40% những thử nghiệm lâm sàng được tiến hành trên thế giới nhằm vào những vaccin điều trị chống bệnh sida, so với 60% những vaccin có mục đích phòng ngừa.
Một vaccin điều trị hiện được trắc nghiệm ở Viện y học nhiệt đới và ở bệnh viện đại học Anvers (Bỉ).
(LE SOIR 30/1/2013)
Post a Comment