Bệnh tự miễn chung


Ai bị mắc các bệnh tự miễn?
Đa số các bệnh tự miễn khá hiếm gặp. Tuy nhiên bệnh tự miễn là một nhóm
bệnh có tác động đến hàng triệu người Mỹ. Hầu hết bệnh tự miễn thường tấn công phụ
nữ hơn là nam giới, đặc biệt là phụ nữ trong độ tuổi làm việc và nuôi dạy con. Một số
bệnh tự miễn thường hiện diện ở một thiểu số dân nhất định. Chẳng hạn như bệnh lupus thường gặp ở những phụ nữ Mỹ gốc Phi và Tây Ban Nha hơn là phụ nữ da trắng

gốc Âu. Tỉ lệ bệnh viêm khớp dạng thấp và xơ cứng bì ảnh hưởng trên cộng đồng dân

Mỹ bản  địa cao hơn là dân Mỹ nói chung. Hơn nữa, bệnh tự miễn tác  động  đến các

khía cạnh xã hội, kinh tế, sức khỏe không chỉ trên gia đình mà còn trên những ông chủ,

đồng nghiệp, bạn bè.  


        Nguyên nhân nào gây nên bệnh tự miễn?  

        Bệnh tự miễn có lây không? Không có bệnh tự miễn nào  được chứng minh là

có thể lây hoặc bị nhiễm cả. Các bệnh tự miễn không lan từ người này sang người kia

như các bệnh nhiễm trùng.  Các bệnh này không liên hệ gì đến bệnh AIDS (suy giảm

miễn dịch mắc phải), cũng không phải là một dạng bệnh ung thư ác tính.

        Bệnh tự miễn có di truyền không? Bộ gen mỗi người được thừa hưởng từ bố mẹ

góp phần trong tính mẫn cảm mắc bệnh. Một số bệnh nhất  định như  bệnh vẩy nến

hình thành  ở giữa những thành viên trong cùng một gia đình. Điều này gợi ý rằng có

một gen hoặc một tập hợp các gen  đặc biệt khiến các thành viên trong gia đình cùng

mắc bệnh vẩy nến. Hơn nữa, một số thành viên trong gia  đình mắc bệnh tự miễn lại

thừa hưởng và chia sẻ những gen bất thường  đó dù họ có thể mắc các bệnh tự miễn

khác. Chẳng hạn như một em họ thứ nhất bị bệnh lupus, một chị bạn dì khác có thể bị

bệnh viêm bì cơ, và trong hai người mẹ của họ có một người bị bệnh viêm khớp dạng

thấp.

        Một số ví dụ về bệnh tự miễn (được liệt kê theo cơ quan đích chính)

        Hệ thần kinh

                -         Xơ cứng rải rác

                -         Nhược cơ

        -         Các bệnh lý thần kinh tự miễn như Guillain-Barré

        -         Viêm màng bồ đào tự miễn

Hệ tiêu hóa

        -          Bệnh Crohn

        -          Viêm loét đại tràng

        -          Xơ gan ứ mật nguyên phát

Huyết học

        -          Thiếu máu tán huyết tự miễn

        -          Thiếu máu ác tính

Mạch máu

        -          Viêm động mạch thoáng qua

        -          Hội chứng kháng phospholipid

        -          Các bệnh lý viêm mạch máu như u hạt Wegener

Nội tiết

        -          Đái tháo đường type 1 hay đái tháo đường qua trung gian tự miễn

        -          Bệnh Grave

        -          Viêm giáp Hashimoto

        -          Viêm tinh hoàn và viêm buồng trứng tự miễn

        -          Bệnh lý tự miễn của tuyến thượng thận

Nhiều cơ quan, trong đó có cơ xương khớp*
                -          Viêm khớp dạng thấp  

                -          Lupus ban đỏ hệ thống  

                -          Xơ cứng bì  

                -          Viêm đa cơ, viêm bì cơ  

                -          Các bệnh khớp của cột sống như viêm cứng khớp cột sống  

                -          Hội chứng Sjogren  

        Da  

                -          Vẩy nến  

                -          Viêm da dạng herpes  

                -          Pemphigus thông thường  

                -          Bạch biến  

        *Các  bệnh  này  còn  được  gọi  là  bệnh  lý  mô  liên  kết  (cơ,  xương,  cân,  dây  

chằng…)  

        Sự  hình  thành  bệnh  tự  miễn  chịu  tác  động  bởi  các  gen  được  thừa  hưởng  và   

cách đáp ứng của hệ tự miễn người ấy đối với các ảnh hưởng của môi trường và một  

số yếu tố gây khởi phát nhất định.   

        Còn yếu tố nào ảnh hưởng đến việc hình thành bệnh tự miễn?  

        Một số bệnh tự miễn được biết sẽ khởi phát hoặc nặng hơn nhờ một số yếu tố  

khơi  mào  nhất  định  như  bị  nhiễm  virus  chẳng  hạn.  Đối  với  bệnh  lupus,  ánh  nắng  

không chỉ là yếu tố khởi phát mà còn làm nặng hơn diễn tiến bệnh. Điều quan trọng là  

cần tỉnh táo nhận biết các tác nhân để ngừa hoặc hạn chế mức độ tổn thương của bệnh.  
Một số yếu tố tác động đến hệ tự miễn ít được biết đến như tuổi tác, stress mạn tính,  

nội tiết tố, thai kỳ.  

        Hệ tự miễn hoạt động như thế nào?  

        Hệ tự miễn bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân tấn công vào cơ thể mà cơ thể xem  

là vật lạ. Đó là hệ thống vô cùng phức tạp. Hệ thống này điều hành cơ thể tùy thuộc  

vào mạng truyền thông linh hoạt và kỹ lưỡng giữa nhiều loại tế bào khác nhau của hệ  

miễn dịch. Trọng tâm của hệ thống là khả năng nhận diện và  đáp  ứng với các chất  

được gọi là kháng nguyên – là các tác nhân gây nhiễm khuẩn hay một phần của cơ thể  

(tự kháng nguyên).  

        Các tế bào và phân tử của hệ tự miễn bảo vệ chiếc mũi khòi sự tấn công của  

virus.  

        Tế bào T và  B  

        Đa số các tế bào của hệ tự miễn là các bạch cầu gồm nhiều dạng khác nhau.  

Lymphocyte là một dạng bạch cầu gồm hai nhóm là tế bào T và tế bào B. Tế bào T là  

các tế bào chính của hệ tự miễn giúp tiêu diệt các tế bào xâm nhiễm và phối hợp toàn  

bộ tự miễn cùng phản ứng.Tế bào T có một phân tử trên bề mặt được gọi là thụ thể tế  

bào T. Thụ thể này tương tác với các phân tử khác gọi là MCH (phức hợp phù h ợp mô  

chính). Các phân tử MCH nằm trên bề mặt của hầu hết các tế bào cơ thể và giúp tế bào  

T nhận diện các mảnh kháng nguyên. Tế bào B có chức năng tạo lập kháng thể. Kháng  

thể sẽ gắn vào kháng nguyên và đánh dấu kháng nguyên này để các tế bào của hệ miễn  

dịch tiêu diệt. Các loại bạch cầu khác là đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính.  

          
Đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính  

        Đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính lưu thông trong giòng máu và phát  

hiện ra các chất, vật lạ đối với cơ thể. Khi gặp dị nguyên như vi khuẩn, chúng bao lấy  

và tiêu diệt. Đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính tiêu diệt kháng nguyên lạ nhờ  

tạo ra các phân tử  độc như phân t ử oxygen trung gian phản  ứng. Nếu sản phẩm của  các phân tử gây độc không được kiểm soát thì không chỉ các dị nguyên bị tiêu diệt mà  

các mô chung quanh đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính cũng bị tiêu hủy. Ví  

dụ như những người bị bệnh tự miễn có tên là u hạt Wegener, các đại thực bào và bạch  

cầu đa nhân trung tính tác động quá mức gây tổn thương các mạch máu tạo ra các phân  

tử gây độc và góp phần làm tổn hại mạch máu. Còn trong bệnh viêm khớp dạng thấp,  

các phân tử oxygen trung gian hoạt động và các phân tử gây độc khác được các  bạch  

cầu  đa nhân trung tính và đại thực bào hoạt  động quá mức làm tổn tương khớp. Các  

phân tử gây  độc góp phần tạo viêm biểu hiện bằng sưng,  nóng và góp phần làm tổn  

thương khớp.           Đại thực bào đến bao lấy vi khu ẩn và giải phóng các phân tử gây độc (oxygen  

trung gian hoạt động) phá vỡ và tiêu diệt vi khuẩn.  

           

         Hình trên bên trái: một virus đang tấn công tế bào thần kinh. Hình dưới bên  

ph ải:  một  tế  bào  T  cùng  thụ  thể  tế  bào  T  đang  nhận  diện  một  mảnh  virus  (kháng  

nguyên) trên hệ MCH của tế bào thần kinh bị nhiễm virus.  

           

         Tuy nhiên, để tế bào T  đáp ứng với dị nguyên trên hệ MCH phải cần đến một  

phân tử khác nằm trên tế bào đại diện kháng nguyên gởi tín hiệu thứ phát đến tế bào T.  

Phân tử tương ứng trên bề mặt tế bào T nhận diện tín hiệu thứ phát này. Hai loại phân  

tử thứ hai của tế bào đại diện kháng nguyên và tế bào T này được gọi là các phân tử  

đồng kích thích.  

          Có một số tập hợp phân tử đồng kích thích tham gia trong việc tương tác với tế  

bào đại diện kháng nguyên cùng với tế bào T. Khi các MCH, thụ thể của tế bào T, các  

phân tử đồng kích thích được tương tác với nhau thì tế bào T sẽ được kích hoạt để hoạt  

động theo một số cách.  

          Các cách hoạt động đó gồm có hoạt hóa, dung nạp hay chết tế bào T. Các bước  

nhỏ hơn sẽ tùy thuộc vào sự tác động và cách tương tác của các thành phần trong phân  

tử  đồng kích thích. Do các tương tác là đáp ứng chính yếu của hệ miễn dịch nên các  

nhà  nghiên  cứu  đặt  nặng  nghiên  cứu  để  tìm  ra  các  phương  cách  điều  trị  mới  nhằm  

kiểm soát hoặc ngưng sự tấn công của hệ tự miễn trên chính các mô và cơ quan của cơ  

thể.  

           
         Một tế bào đại diện kháng nguyên (ví dụ như đại thực bào) và dị nguyên trên hệ  

MCH  được các thể tế bào T nhận diện. Ngoài ra các phân tử  đồng kích thích trên tế  

bào đại diện kháng nguyên và tế bào T tương tác nhau.  

            

         Kháng nguyên lạ trên hệ MCH 

         Cytokines và Chymokines  

           

         Sau khi có sự kết hợp (tương tác) giữa MHC và thụ thể tế bào T, hoặc có sự  

tương tác giữa các phân tử đồng kích thích, tế bào T đáp ứng bằng cách chế tiết ra các  

cytokines và chemokines. Cytokines là các protein bao quanh các tế bào hệ miễn dịch  

để được kích hoạt, trưởng thành hay sẽ chết đi. Chúng cũng ảnh hưởng đến các mô của  

hệ thống phi miễn dịch. Ví dụ như một số cytokines có thể cấu tạo nên thành lớp dày  

sừng của da và biểu hiện ở người xơ cứng bì.   

           

         Sau khi các tế bào đại diện kháng thể và tế bào T tương tác với nhau qua MHC,  

thụ thể tế bào T và các phân tử đồng kích thích thì tế bào T được hoạt hóa sẽ gởi các  

tính hiệu cytokines đến các tế bào khác.  

           

         Các tế bào T khác  

         Tế bào T hoạt hóa  

         Các tính hiệu cytokines  
         Chemokines  là  các  phân  tử  cytokines  nhỏ  có  thể  thu  hút  các  tế  bào  hệ  miễn  

dịch. Quá sản cytokines gây ra viêm và xâm lấn cơ quan đích và biểu hiện ở các bệnh  

tự miễn. Ví dụ như quá sản cytokine ở khớp của người bị viêm khớp dạng thấp gây ra  

hậu quả là xâm chiếm không gian khớp bằng cách phá hủy các tế bào của hệ miễn dịch  

như đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính, tế bào T.  

           


Post a Comment