ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

                                  ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Mục tiêu
1. Trình bày được định nghĩa, đặc điểm dịch tễ học, bệnh nguyên và cơ chế bệnh
sinh
2. Trình bày được tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường
3. Phân loại đái tháo đường.
4. Trình bày được các triệu chứng cận lâm sàng về bệnh.
5.Biến chứng cấp và mạn của đái tháo đường
6. Trình bày được cách tiết thực trong đái tháo đường
7. Trình bày được một số loại thuốc thường dùng trong điều trịđái tháo đường
Nội dung
I. ĐỊNH NGHĨA ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 
- Theo TCYTTG 1999: "đái tháo đường (ĐTĐ) là một tình trạng rối loạn chuyển hóa
đa nguyên nhân đặc trưng bởi tình trạng tăng glucose máu mạn tính với các rối loạn
chuyển   hóa   carbohydrate,   mỡ,   protein   do   hậu   quả  của   khiếm   khuyết   tiết   insulin,
khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai".
- Theo TCYTTG 2002: “ĐTĐ là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin
của tụy hoặc tác dụng insulin không hiệu quả do nguyên nhân mắc phải và/hoặc do
di truyền với hậu quả tăng glucose máu. Tăng glucose máu gây tổn thương nhiều hệ
thống trong cơ thể, đặc biệt mạch máu và thần kinh”.

- Theo Hội ĐTĐ Hoa Kỳ 2004: “ ĐTĐ là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng
bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insuline, khiếm khuyết hoạt động insuline,
hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính trong ĐTĐ sẽ gây tổn thương, rối loạn chức
năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu “.
II. DỊCH TỂ HỌC 
30-50% bệnh nhân mắc ĐTĐ type 2 không được chẩn đoán.
-   Tần   suất   bệnh ĐTĐ  trên   thế  giới:   trên   thế  giới, ĐTĐ  chiếm   khoảng   60-70%   các
bệnh nội tiết. Trong năm 1995 các quốc gia có số người mắc ĐTĐ nhiều nhất và số
người dựđoán mắc ĐTĐ vào năm 2025 là Ấn Độ (19 lên 57 triệu), Trung Quốc (16
lên 38 triệu), Hoa Kỳ (14 lên 22 triệu); trong đó Ấn Độ là nước có tỉ lệ tăng nhanh
nhất.
1985: 30 triệu người mắc ĐTĐ; 2000: 171 triệu; 2030: dự báo 366 triệu; trong đó đa
số bệnh nhân = 65 tuổi ở các nước phát triển và từ 45-64 tuổi ở các nước đang phát
triển.
3,2 triệu người ĐTĐ tử vong do biến chứng ĐTĐ hàng năm, tương đương 6 trường
hợp/phút
- Tần suất bệnh ĐTĐ trong nước: 
 2002: thành phố: 4,4%, đồng bằng: 2,7%, trung du: 2,2%, miền núi: 2,1%. 
Hà Nội: 1991: 1,2%, 1999-2001: 2,42%, thành phố Huế 1992: 0,96%, thành phố Hồ 
chí Minh: 1993: 2,52 (0,4%. 
Theo    TCYTTG,    năm   2000   Việt  nam  có  791.653   người   mắc  ĐTĐ  và    tăng  lên 
2.342.879 người vào năm 2030. 
III. BỆNH NGUYÊN VÀ CƠ CHẾ BỆNH SINH 
1. ĐTĐ type 1: Có các yếu tố: di truyền, môi truờng, miễn dịch. 

                 

                            Hai giai đoạn phát triển ĐTĐ type 1: 
       - GĐ1: Tạo đáp ứng tự miễn hằng định với TB đảo tụy, biểu hiện bởi sự xuất 
       hiện các tự kháng thể GAD65, IAA, ICA, IA-2 (đơn độc hay phối hợp) 
       - GĐ 2: Tiến triển từđáp ứng tự miễn với TB đảo tụy sang ĐTĐ type 1. 

1.1. Di truyền 
ĐTĐ type 1 phối hợp cao với sự gia tăng thường xuyên của kháng nguyên HLA, KN 
HLA ưu thế phối hợp với ĐTĐ type 1 thay đổi tùy theo chủng tộc, HLA B8, B14,15, 
B18, Cw3, DR3 và DR4 gặp ở bệnh nhân ĐTĐ chủng tộc da trắng, trong khi đó HLA 
DR3, DR4có liên quan với ĐTĐ thể 1 châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. HLA DR3 
hoặc DR4 gặp ở 95% ĐTĐ type 1 so với 45-50% nhóm chứng chủng tộc da trắng.  
Nghiên cứu những cặp sinh đôi đồng hợp tử gợi ý rằng ảnh hưởng di truyền ở ĐTĐ 
type 1 ít gặp hơn là ở type 2. Chỉ có 30% những cặp sinh đôi giống hệt nhau bị ĐTĐ 
type 1 sẽ phát triển thành bệnh.  Điều này cũng gợi ý rằng yếu tố môi trường liên 
quan đến bệnh sinh ĐTĐ. Ngược lại, cặp sinh đôi giống nhau của ĐTĐ type 2 dễ xảy 
ra trong vòng năm đầu tiên bị bệnh nhiều hơn là anh chị em ruột. 
1.2. Yếu tố môi trường 
ĐTĐ type 1 là hậu quả của sự nhiễm trùng, nhiễm độc làm tổn thương tụy, hệ thống 
miễn dịch tấn công và phá hủy tế bào bêta tụy. Yếu tố môi trường kết hợp với tổn 
thương chức năng tế bào  đảo tụy bao gồm virus (quai bị, rubella, virus coxsackie 
B4), tác nhân  độc hóa học (nitrophényl-urea  độc cho chuột), và các chất  độc hủy 
hoại tế bào khác như hydrogen cyanide từ bột sắn hư hỏng hay từ củ sắn. 
1.3. Yếu tố miễn dịch 
1.3.1. Miễn dịch thể dịch 
Kháng thể lưu hành chống lại những tế bào đảo tụy được tìm thấy ở phần lớn bệnh 
nhân ĐTĐ type 1 ngay lúc được chẩn đoán (60 - 90%) rồi giảm. Cũng có nghiên cứu 
cho rằng tự KT kháng tế bào tiểu  đảo (ICA: islet cell autoantibody)  được phát hiện 
trong 5 tuần đầu sau khi khởi bệnh ở 85-90% ĐTĐ thể 1. Ngoài ra > 60% KT kháng 
insuline  được tìm thấy trước khi  điều trị insuline (autoantibody to insuline: IAA). 
Ngoài ra còn có KT kháng Tyrosine phosphatase IA-2 và IA2. 
Ngoài ra, phần lớn KT kháng tế bào  đảo trực tiếp chống lại Glutamic Acid 
Decarboxylase (GAD hay GADA), một loại men định vị trong tế bào bêta của tụy. Có 
sự giống hệt giữa thành phần protein của virus coxsackie chứa chuỗi 24 amino acid 
tương đồng với GAD65. 
1.3.2. Miễn dịch tế bào 
Cũng  đóng vai trò trong bệnh sinh  ĐTĐ type 1: người ta  đã nghiên cứu trên chuột 
BB và nhờ vào KT đơn dòng cho thấy rối loạn TB lympho liên quan đến ĐTĐ type 1 
(giảm lympho T  ức chế, và tăng tỉ lympho T giúp  đỡ/lympho T  ức chế). Những 
nghiên cứu rất gần đây gợi ý rằng bệnh lý miễn dịch của đảo tụy bắt đầu nhiều năm 
trước khi chẩn đoán lâm sàng; tiến trình miễn dịch xảy ra chậm và tiếp tục. 
Các yếu tố khác ngoài liệu pháp miễn dịch có thể ảnh hưởng đến diễn tiến tự nhiên 
của suy tế bào β trong ĐTĐ type 1 
Bảng 1: Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐTĐ 
2. ĐTĐ type 2 
2.1. Yếu tố di truyền
Yếu tố di truyền là trội  được gợi ý sau khi nghiên cứu  ở các cặp song sinh giống 
nhau, nếu một người mắc ĐTĐ thì 100% người còn lại cũng mắc ĐTĐ. 
2.2. Yếu tố môi trường 
Tuổi, béo phì, tĩnh tại là yếu tố nguy cơ dễ đưa đến bệnh ĐTĐ. Ở ĐTĐ type 2 béo 
phì nhất là béo bụng, tĩnh tại thường có sự thiếu liên kết insuline với thụ thể và sau 
thụ thể trong nội bào, kết quả là mất đáp ứng với insuline. 
Ngoài ra ĐTĐ type 2 thường xảy ra ở quần thể có nguy cơ cao khác nhau, bao gồm 
đề kháng insuline, gia tăng bất thường mô mỡ, tăng VLDL, như tăng insuline khi đói 
và sau ăn, tăng HA (trong hội chứng chuyển hóa). 
Sự đề kháng insuline trong ĐTĐ type 2 là hậu quả của nhiều cơ chế bệnh sinh khác 
nhau. Phần lớn cơ chế này có lẽ do hậu quả của rối loạn chuyển hoá như tăng 
glucose máu, tăng acide béo không - ester hoá. Mặt khác những nghiên cứu gần đây 
trên quần thể tiền đái tháo đường, thấy rằng sự đề kháng insuline ở mô cơ xảy ra rất 
sớm trong quá trình phát triển của bệnh. Insuline receptor kinase, phosphatase liên 
quan tới hoạt động insuline, chất chuyển vận glucose và tổng hợp glycogene. 
Rối loạn chức năng tế bào β trong ĐTĐ type 2: có 5 rối loạn:  
1. Rối loạn tiết Insulin: 
 - Giảm đáp ứng của insulin đối với glucose: mất pha sớm. 
 - Rối loạn tiết insulin theo nhịp: rối loạn pha dao  động chậm. Sự tiết insulin 
sinh lý gồm 2 loại dao động: dao động nhanh (mỗi 8-15’, không liên quan glucose), 
dao động chậm (mỗi 80-120’, liên quan chặt chẽ với nồng độ glucose). 
2. Bất thường chuyển hóa prinsulin: trong ĐTĐ type 2 tỉ proinsulin và các sản phẩm 
chuyển hóa trung gian / insulin: tăng. 
3. Giảm khối lượng tế bào β. 
4. Lắng đọng amyloid (amylin) tại đảo tụy. Gặp trong 90% trường hợp ĐTĐ type 2. 
Xảy ra sớm gây mất dần khối lượng tế bào đảo tụy, nhất là tế bào β. 
5. Vai trò của cơ chất thụ thể insulin 2 (IRS 2: Insulin Receptor Substrate 2), NF-kB, 
rối loạn chức năng ti thể, stress oxy hóa. 
IV. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 
Để chẩn đoán ĐTĐ, hiện nay người ta dùng tiêu chuẩn chẩn đoán mới của Tổ chức 
Y tế Thế giới (TCYTTG) năm 1998 và  đã  được xác  định lại 2002. Chẩn  đoán xác 
định  ĐTĐ nếu có một trong ba tiêu chuẩn dưới  đây và phải có ít nhất hai lần xét 
nghiệm ở hai thời điểm khác nhau: 
  1. Glucose huyết tương bất kỳ trong ngày ≥200 mg/dl (≥11,1 mmol/l), kèm ba 
triệu chứng lâm sàng gồm tiểu nhiều, uống nhiều, sụt cân không giải thích  được. 
    
  2. Glucose huyết tương lúc đói ≥126 mg/dL (≥7mmol/l) (đói có nghĩa là trong 
vòng 8 giờ không được cung cấp đường).
3. Glucose huyết tương hai giờ sau uống 75g glucose  ≥200 mg/dl 
(11,1mmol/l) khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống (OGTT). 
Giai đoạn trung gian:  
  + Rối loạn glucose máu  đói (IFG: Impaired Fasitng Glucose): khi 
glucose máu đói Go (FPG) ≥110 mg/dl (6,1 mmol/l) nhưng < 126 mg/dl (7,0 mmol/l). 
  + Rối loạn dung nạp glucose (IGT: Impaired Glucose Tolerance): khi 
glucose máu 2 giờ sau OGTT (G2) ≥140 mg/dl (7,8 mmol/l), nhưng < 200 mg/dl (11,1 
mmol/l).  
  - Go < 110 mg/dl (6,1 mmol/l): glucose đói bình thường. 
 - Go ≥126 mg/dl (7,0 mmol/l): chẩn đoán tạm thời là theo dõi ĐTĐ (chẩn đoán 
chắc chắn là phải đủ điều kiện nêu trên).  
Đánh giá kết quả khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống: 
     - G2 < 140 mg/dl (7,8 mmol/l): dung nạp glucose bình thường. 
 - G2  ≥ 140 mg/dl và < 200 mg/dl (11,1 mmol/l): rối loạn dung nạp glucose 
(IGT). 
 - G2 ≥ 200 mg/dl (11,1 mmol/l): chẩn đoán tạm thời là ĐTĐ. 
Lưu ý: TCYTTG còn sử dụng glucose mao mạch để chẩn đoán ĐTĐ (cần lưu ý đến 
tính chính xác của máy  đo dường huyết mao mạch); trong khi Hội  ĐTĐ Hoa Kỳ 
(ADA) chỉ sử dụng glucose huyết tương tĩnh mạch trong chẩn đoán ĐTĐ. 
Bảng 2: Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ và các rối loạn glucose máu khác (theo TCYTTG - 
1999) 
CHIẾN LƯỢC CHẨN ĐOÁN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG THEO WHO 2002
Bảng 3: CÁC GIAI ĐOẠN LÂM SÀNG CỦA ĐTĐ  
V. PHÂN LOẠI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 
Sau đây là bảng phân loại của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2004 
Bệnh ĐTĐ gồm 2 thể loại chính là ĐTĐ type 1 và type 2. 
1. ĐTĐ type 1 (tự miễn và vô căn) 
Đái tháo đường type 1 đặc trưng bởi sự hủy hoại tế bào bêta của đảo Langherhans 
tụy (tự miễn hoặc vô căn) và thiếu hụt gần như tuyệt đối insuline, vì thế dễ bị nhiễm 
toan ceton nếu không được điều trị.  
Tuổi khởi bệnh thường gặp nhất ở lứa tuổi nhi đồng và thiếu niên, tuy vậy cũng có 
thể gặp ở lứa tuổi 90. 
Thường có yếu tố tố bẩm di truyền và có liên quan  đến một số yếu tố môi trường 
(nhiễm virus trong thời kỳ bào thai, độc tố...).   
Thường có phối hợp với một số bệnh tự miễn khác như bệnh Basedow, viêm tuyến 
giáp Hashimoto, bệnh Addison. 
Đặc trưng bởi sự hiện diện kháng thể kháng GAD 65, kháng thể kháng tế bào đảo 
tụy (ICA) hay kháng thể kháng insulin IAA, kháng thể kháng tyrosine phosphatase 
IA-2, IA-2((85-90% trường hợp).  Ở một số người (đặc biệt người châu Á và châu 
Phi) người ta không tìm  được bằng chứng của hiện tượng tự miễn và  được phân 
loại là "type 1 vô căn". Tốc độ phá hủy tế bào bêta rất thay đổi, có thể chậm ở người 
trưởng thành gây nên ĐTĐ thể LADA (Latent Autoimmune Diabetes in Adults).  
Đái tháo đường thể LADA (theo Diabetes 12.2005): > 10% ở người > 35 tuổi, 25% ở 
người <35 tuổi. 
- Tên khác của ĐTĐ LADA: ĐTĐ type 1 tiềm tàng, ĐTĐ phụ thuộc insulin tiến triển 
chậm, ĐTĐ phụ thuộc insulin khởi phát chậm, ĐTĐ type 1 tiến triển chậm, ĐTĐ type 
1,5, ĐTĐ tự miễn tiềm tàng ở người trẻ (LADY-like), ĐTĐ tự miễn không cần insulin 
lúc chẩn  đoán,  ĐTĐ LADA type 1 và type 2,  ĐTĐ type 2 béo phì có tự kháng thể, 
ĐTĐ tự miễn  ở người trưởng thành với suy chậm tế bào ((ADASP: Autoimmune 
Diabetes with Slowly Progressive β-cell failure). 
- Tiêu chuẩn chẩn đoán LADA 
 1. ≥ 30 tuổi 
  2. Có sự hiện diện của ít nhất 1 trong 4 tự kháng thể: ICA, GAD65, IA-2, IAA. 
  3. Không cần điều trị bằng Insulin trong vòng 6 tháng sau khi được chẩn đoán. 
- Ngay lúc chẩn đoán ĐTĐ LADA đã có rối loạn chức năng TB β vì thế có quan điểm 
sử dụng insulin ngay từ lúc mới được chẩn đoán. Hầu hết bệnh nhân LADA đều cần 
Insulin trong vòng 6 năm kể từ lúc được chẩn đoán, một số trường hợp cần insulin 
sau 12 năm. Sự hiện diện của các tự kháng thể càng nhiều thì tốc độ rối loạn tế bào 
(xảy ra càng nhanh: ≥ 2 tự kháng thể → rối loạn tế bào β trong vòng 5 năm; LADA 
chỉ có ICA + hay GADA +  → rối loạn tế bào  β xảy ra muộn hơn (12 năm), LADA 
không có sự hiện diện của tự kháng thể hay chỉ có IA-2 +  → chức năng tế bào  β 
không bị ảnh hưởng và vẫn được bảo tồn 12 năm sau khi được chẩn đoán. 
2. ĐTĐ type 2 
Thường gặp nhất.  Đặc trưng bởi rối loạn hoạt  động hay tiết insulin: thay  đổi từ  đề 
kháng insulin chiếm ưu thế với thiếu insulin tương đối đến khiếm khuyết tiết insulin 
chiếm ưu thế kèm đề kháng insulin hay không.  
Thường không được chẩn đoán trong nhiều năm vì mức độ tăng glucose máu không 
trầm trọng, nhiều trường hợp được chỉ phát hiện tình cờ. Thường xảy ra ở người lớn 
tuổi >40 tuổi, nhưng đôi khi cũng xảy ra ở trẻ nhỏ, có tính gia đình. 
Đa số trường hợp có kèm béo phì và bản thân béo phì lại làm trầm trọng thêm tình 
trạng đề kháng insulin. Nhiều bệnh nhân không được xem là béo phì dựa trên những 
tiêu chuẩn kinh điển nhưng lại có sự tích tụ mỡ nhiều ở vùng bụng. 
Hiếm khi nhiễm toan ceton ngoại trừ khi có stress hoặc nhiễm trùng. 
Nồng độ insulin máu bình thường hoặc cao trong trường hợp đề kháng insulin chiếm 
ưu thế; hoặc nồng độ insulin giảm trong trường hợp có khiếm khuyết khả năng tiết 
insulin. 
Có yếu tố gia đình rõ (có lẽ do di truyền). Các yếu tố nguy cơ của ĐTĐ type 2 bao 
gồm: tuổi lớn, béo phì, ít hoạt động thể lực, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, tiền sử 
gia đình ĐTĐ, tiền sử bị ĐTĐ thai nghén và thuộc một số nhóm chủng tộc có nguy cơ 
cao mắc ĐTĐ.  
3. Các týp đặc biệt khác: bao gồm 
- Giảm chức năng tế bào bêta do khiếm khuyết gene: MODY1  đến MODY 6.  ĐTĐ 
thể MODY (Maturity-onset diabetes of the young): do khiếm khuyết 1 gene làm giảm 
chức năng tế bào bêta gây giảm tiết insulin. Thường xảy ra sớm (trước 25 tuổi), đặc 
trưng bởi rối loạn tiết insulin, trong khi hoạt  động insulin không bị  ảnh hưởng hoặc 
ảnh hưởng không đáng kể. với tăng glucose máu mức độ nhẹ. Loại thường gặp nhất 
là MODY 3 do đột biến ở NST 12 ở yếu tố nhân tế bào gan (HNF1 alpha). 
- Giảm hoạt tính insulin do khiếm khuyết gene: đề kháng insulin týp A, ĐTĐ thể teo 
mỡ, hội chứng Rabson Mendenhall... 
- Bệnh lý tụy ngoại tiết: bệnh tụy xơ sỏi, viêm tụy, chấn thương/cắt bỏ tụy, ung thư, 
xơ kén tụy, bệnh nhiễm sắc tố sắt... 
- Bệnh nội tiết: hội chứng Cushing, to đầu chi, pheochromocytoma, u tiết glucagon, 
cường giáp, u tiết somatostatin, u tiết aldosterone... 
- ĐTĐ do thuốc, hóa chất: Vacor, pentamidin, acid nicotinic, corticoid, hormon tuyến 
giáp, thuốc  đồng vận giao cảm bêta, thuốc  đồng vận giao cảm alpha, lợi tiểu 
thiazide, Dilantin, interferon alpha... 
- Nhiễm khuẩn: Rubella bẩm sinh, Cytomegalovirus... 
- Các thể không thường gặp của ĐTĐ qua trung gian miễn dịch: tự kháng thể kháng 
thụ thể insulin, hội chứng người cứng... 
- Một số hội chứng di truyền đôi khi kết hợp với ĐTĐ: hội chứng Down, thất điều vận 
động Friedrich, hội chứng Klinefelter, hội chứng Turner, múa vờn Huntington, hội 
chứng Lawrence-Moon-Biedel, loạn dưỡng trương lực cơ, porphyria, hội chứng 
Prader-Willi, hội chứng Turner, hội chứng Wolfram... 
4. ĐTĐ thai nghén 
ĐTĐ thai nghén (ĐTĐTN) là tình trạng rối loạn dung nạp glucose máu với các mức 
độ khác nhau, khởi phát hay được phát hiện đầu tiên khi có thai; dù dùng insulin hay 
chỉ tiết thực để điều trị và ngay cả khi ĐTĐ vẫn còn tồn tại sau khi sinh. Định nghĩa 
này không loại trừ tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose đã xảy ra trước hay xảy ra 
cùng lúc khi có thai mà không được nhận biết trước đó.  
VI. CẬN LÂM SÀNG 
1. Glucose huyết tương tĩnh mạch 
Lúc đói, hoặc bất kỳ hoặc 2 giờ sau làm nghiệm pháp dung nạp glucose máu bằng 
đường uống; có giá trị như đã nêu trên phần chẩn đoán. 
2. Insuline máu
Thấp,  đôi khi chỉ còn vết  ở  ĐTĐ typ 1; ngược lại tăng hoặc bình thường hoặc hơi 
thấp ở ĐTĐ typ 2. 
3. Nồng độ C-peptide 
C-peptide là thành phần cầu nối hai chuỗi A và B của phân tử proinsuline do tuỵ sản 
xuất. Proinsulin → Insulin + C peptide. C peptide giúp  đánh giá nồng dộ insulin nội 
sinh. 
4. HbA1c 
Khi glucose máu tăng thì  độ tập trung glucose trong hồng cầu tăng, dẫn  đến tỉ 
HbA1c cũng tăng. HbA1c cho phép đánh giá nồng độ glucose máu trung bình trong 2 
tháng trước đó. 
5. Fructosamine 
Định lượng tổng thể protein gắn glucose (đặc biệt là albumine). Trị số bình thường là 
1 - 2.5 mmol/l, thay đổi tuỳ theo phương pháp định lượng. Trị số Fructosamine phản 
ánh nồng độ glucose máu trung bình trong hai tuần trước. 
6. Các xét nghiệm miễn dịch - di truyền 
  - Di truyền: có thể phát hiện được các kháng nguyên HLA-DR3 và/hay HLA-DR4, HLA-DQ, HLA-DRB (14,15), HLA-DR/DQ. 
 - Yếu tố miễn dịch thể dịch: KT kháng tế bào tiểu đảo (ICA): dấu chỉ điểm rất 
quan trọng trong hoạt động miễn dịch của ĐTĐ type 1. KT kháng insuline (IAA). KT 
kháng Tyrosine phosphatase IA-2 và IA2(. KT kháng Glutamic Acid Decarboxylase 
(GAD65 hay GADA65). 
7. Bilan về biến chứng hay bệnh phối hợp 
  - Cétone niệu: được chỉ định trong trường hợp ĐTĐ mất bù nặng, nhất là khi 
nghi ngờ có bị nhiễm toan cetone, thường (+) trong hôn mê nhiễm toan cétone  ở 
type 1 hay type 2 mất bù nặng do mắc một số bệnh phối hợp. 
 - Đo điện tim, chụp phim phổi, soi đáy mắt, chụp động mạch võng mạc, siêu 
âm doppler hoặc chụp động mạch chi dưới nếu nghi ngờ có xơ vữa gây hẹp, bilan 
về lipide, XN chức năng thận (urê, créatinine máu, albumine niệu vi thể, protêin 
niệu). 
 - Đo điện cơ đồ EMG, trắc nghiệm thăm dò bệnh thần kinh tự động ở hệ tim 
mạch, Holter đo HA và mạch 24 giờ. 
VII. CHẨN ĐOÁN 
Bảng 5: Các đặc điểm chính của ĐTĐ type 1 và type 2 (theo TCYTTG 2002) 
1. Chẩn đoán ĐTĐ type 1 
Không được bàn cãi là: 
 - Khởi đầu tuổi trẻ < 40 tuổi. 
  - Glucose máu tăng theo tiêu chuẩn chẩn đoán của TCYTTG như đã nói trên.  
 - Dấu lâm sàng rầm rộ: tiểu nhiều (tăng sinh niệu thẩm thấu), uống nhiều, ăn 
nhiều, gầy nhiều, và suy kiệt (asthénie). 
  - Tình trạng giảm insuline tuyệt đối dễ đưa đến nhiễm cétone và nhiễm toan-cétone nếu không  điều trị (C-peptide <0,2ng/ml). Trước khi giảm insuline tuyệt  đối, 
độ nặng nhẹ lâm sàng phụ thuộc vào độ tiết insuline “cặn” được xác định bằng cách 
đo insuline máu hoặc C-peptide. 
  - Kháng thể kháng đảo (+), và KT kháng thể kháng GAD (+). 
 - Điều trị phụ thuộc insuline. 
 - Biến chứng vi mạch là thường gặp. 
  - Liên quan đến yếu tố HLA 
2. Chẩn đoán ĐTĐ type 2 
Lâm sàng, bệnh nhân ĐTĐ type 2 có triệu chứng lâm sàng rõ xảy ra sau tuổi 40, đôi 
khi có thể xảy ra sớm hơn. Dấu lâm sàng thường không rầm rộ như type 1, nhưng 
cũng có thể là tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều (thường có yếu tố làm dễ như stress, 
nhiễm trùng...), rối loạn thị giác  đặc biệt là dấu do tăng glucose máu như rối loạn 
chiết quang, hoặc là  đã có biến chứng về mạch máu và thần kinh. Trong những 
trường hợp này tăng glucose máu thường phối hợp với glucose niệu và chẩn đoán 
dễ dàng không cần thiết làm trắc nghiệm chẩn đoán quá phức tạp. Đôi khi hoàn toàn 
không có triệu chứng, và chẩn đoán phải cần đến các xét nghiêm cận lâm sàng một 
cách có hệ thống (30-50% ĐTĐ type 2 không được phát hiện). 
Bảng 6: Bảng phân biệt  ĐTĐ type 1 và  ĐTĐ type 2 của Nhóm dữ kiện  ĐTĐ quốc gia 
Hoa Kỳ (NDDG), và của V. Fattorusso và O. Ritter (có phần giống nhau) nêu lên vài nét 
đặc thù riêng giữa 2 thể như sau 
VI. BIẾN CHỨNG 
1. Biến chứng cấp 
Biến chứng cấp đặc hiệu ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 là tăng thẩm thấu do tăng glucose 
máu, hạ glucose máu, nhiễm toan lactique; ĐTĐ type 1 là nhiễm toan cetone. 
1.1. Tăng thẩm thấu do tăng glucose máu (HHS: Hyperglycemic Hyperosmolar 
State) 
Thường xảy ra  ở người già. Giảm chức năng thận và rối loạn khát thường gặp  ở 
người già, càng làm tăng cường độ và tính trầm trọng biến chứng này. Hôn mê với 
độ thẩm thấu HT > 340 mOsm/Kg nước, không có nhiễm toan ceton. Lâm sàng tiến 
triển nhanh, mất nước, sốt và rối loạn ý thức (sửng sờ, hôn mê, co giật động kinh). 
Mất nước nội và ngoại bào, chủ yếu nội bào. Thở nhanh, nông, nhưng không có mùi 
cetone. 
CLS: - Glucose máu tăng >8g/l (44 mmol/l), có thể đạt đến 20g/l, nhưng luôn luôn > 
7g/l, Natri máu tăng rất cao (>150mmol/l)ì; Kali có thể bình thường hoặc giảm do 
điều chỉnh glucose bằng insuline, cetone niệu (-). Thường có suy thận chức năng, 
urê luôn trên 1,5 g/l. 
  - pH máu bình thường, dự trữ kiềm không thay đổi 
- Có nhiều cách tính tăng độ thẩm thấu: 
(Na +K+) 2 + G + Urê > 340 mOsm/Kg nước
1.2. Hạ glucose máu 
Là triệu chứng  đáng ngại, nhất là  ở bệnh nhân già  ĐTĐ type 2  điều trị bằng 
sulfonylureas. Nếu bệnh nhân  ĐTĐ có biến chứng thần kinh tự  động làm mất  đáp 
ứng tiết catécholamine, làm che dấu triệu chứng hạ glucose máu nên bệnh nhân 
cũng như thầy thuốc không cảnh giác được. Hạ glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ già 
là nguồn gốc của tai biến mạch máu não hoặc mạch vành, càng tăng tử suất ĐTĐ, 
ngay cả dấu hạ glucose máu mức độ vừa nhưng nếu lập lại nhiều lần cũng rất nguy 
hại và không hồi phục. 
1.3. Nhiễm toan acid lactic 
Xảy ra ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 lớn tuổi, thường có tổn thương suy tế bào gan, hoặc 
suy thận, và thường do điều trị bằng Biguanide. Hiếm gặp 
1.4. Nhiễm toan cetone đái tháo đường (DKA: Diabetic Ketoacidosis) 
Gặp  ở bệnh nhân  ĐTĐ type 1, type 2 hiếm. Tiền triệu có thể rất kín  đáo: mệt mỏi, 
chán ăn, nôn mửa. Đau vùng thượng vị, đặc hiệu theo thắt lưng. Tiểu nhiều và khát 
nước nhiều, nước tiểu có cetone > ++ là triệu chứng báo động, ngay cả khi không có 
triệu chứng lâm sàng. Có vài trường hợp nhiễm toan cetone nặng xảy ra trong vài 
giờ, hoặc vài ngày, và tốc độ xuất hiện là yếu tố chính giúp tiên lượng. 
Dấu lâm sàng rõ với khó thở do nhiễm toan: thở nhanh 25 l/ph, khó thở 4 thì của 
Kussmaul. Rối loạn ý thức, thông thường không có dấu thần kinh khu trú và Babinski 
(-). Có dấu mất nước nội và ngoại bào. Rối loạn tiêu hoá (nôn mửa, đau bụng nhiều, 
đi chảy càng làm mất điện giải). Hơi thở có mùi acetone, hạ nhiệt thường gặp. Dãn 
đồng tử. 
Cận lâm sàng: glucose niệu (++++) và cetone niệu (+++). 
- ECG: phải thực hiện một cách hệ thống ngay khi bệnh nhân mới vào viện, 
đánh giá biên độ sóng T và xem có bất thường về dẫn truyền tim tương ứng với kali 
máu 
  - Glucose máu: 3 - 5g/l.- Thể ceton trong HT rất cao  
 - HCO3
- giảm < 10 mEq/l, pH gần 7,0 hoặc thấp hơn (BT: 7,30) 
 - Rối loạn kali máu: giờ đầu bình thường hoặc tăng, nhưng giảm nhanh trong 
3 giờ sau. Vì thế theo dõi điện tim đều đặn là cần thiết. 
2. Biến chứng mạn tính 
2.1. Biến chứng vi mạch 
2.1.1. Bệnh lý võng mạc ĐTĐ 
Nguyên nhân chính gây mù. Gồm 2 giai  đoạn: bệnh lý võng mạc  ĐTĐ không tăng 
sinh (NPDR: nonproliferative diabetic retinopathy) và bệnh lý võng mạc  ĐTĐ tăng 
sinh (PDR: proliferative diabetic retinopathy). 
Bảng 8: Các giai đoạn bệnh lý võng mạc ĐTĐ
+ Ngoài biến chứng vi mạch võng mạc, tại mắt còn có các biến chứng sau: rối loạn 
chiết quang nên nhìn khi tỏ khi mờ, rối loạn màu sắc (xanh, vàng), đục thuỷ tinh thể, 
viêm thần kinh thị, liệt cơ vận nhãn, glaucome (do tăng sinh mạch máu tại mống mắt 
làm ngăn cản lưu thông dịch kính từ tiền phòng ra hậu phòng)  
2.1.2. Bệnh lý vi mạch thận (bệnh lý thận ĐTĐ) 
Thường xảy ra đồng thời với bệnh lý võng mạc, là nguyên nhân hàng đầu suy thận 
mạn tiến triển. Triệu chứng ưu thế ở giai đoạn sớm là proteine niệu xuất hiện sau 10-15 năm khởi bệnh ĐTĐ, mà biểu hiệu giai đoạn đầu là albumine niệu vi thể.
Ở giai đoạn có albumine-niệu vi thể, sinh thiết thận sẽ thấy dày màng đáy mao mạch 
với các lắng  đọng lan toả trong lớp gian mạch cầu thận. Khi các lắng  đọng này có 
dạng nốt,  được gọi là xơ hoá kính-cầu thận dạng nốt Kimmelstiel và Wilson; dạng 
tổn thương này ít gặp. Sau một thời gian dài, albumine niệu tăng dần và xuất hiện 
proteine niệu rõ, nếu vượt quá 5 g/24 giờ. Có thể có giảm protide máu, phù đặc hiệu 
của một hội chứng thận hư, và thường phối hợp hằng định với tăng HA trầm trọng, 
với bệnh lý võng mạc và thần kinh ĐTĐ. 
2.1.3. Biến chứng thần kinh ĐTĐ 
Định nghĩa bệnh lý thần kinh ĐTĐ theo ADA 2005: “Sự hiện diện của các triệu chứng 
và/hoặc dấu hiệu của rối loạn chức năng thần kinh ngoại biên ở người ĐTĐ sau khi 
đã loại trừ các nguyên nhân khác” (Chẩn  đoán bệnh lý thần kinh  ĐTĐ là một chẩn đoán lại trừ. Thường phối hợp với bệnh lý võng mạc, bệnh lý thận tạo thành “tam 
bệnh” (triopathie) đặc hiệu của ĐTĐ. 
- Bệnh lý TK cảm giác cấp tính: hiếm, xảy ra sau 1 thời gian kiểm soát chuyển hóa 
kém (như nhiễm toan ceton) hay do thay  đổi đột ngột kiểm soát glucose (“viêm TK 
do insulin”). Triệu chứng cảm giác xảy ra cấp tính và nổi bật, tăng lên về đêm, không 
có dấu hiệu TK khi khám LS. 
- Bệnh lý đa dây TK vận động - cảm giác mạn tính: còn gọi là bệnh lý TK xa gốc đối 
xứng. Thường gặp nhất, > 50% trường hợp.  Đóng vai trò chủ yếu trong bệnh sinh 
loét bàn chân ĐTĐ. 
Biểu hiệu lâm sàng chủ yếu cảm giác bỏng, cảm giác châm chích, cảm giác  điện 
giật, dị cảm, tăng cảm giác đau và cảm giác đau sâu. Triệu chứng nặng về đêm. Xảy 
ra chủ yếu  ở bàn chân và chi dưới. 50% không có triệu chứng và chỉ  được chẩn 
đoán khi thăm khám; có khi có biểu hiện loét bàn chân không đau.  
Khám thấy mất cảm giác rung (dùng âm thoa 128 Hz), cảm giác áp lực (dùng dụng 
cụ sợi đơn 10g - 10g monofilament), cảm giác đau và cảm giác nhiệt, mất phản xạ 
gân gót.. Thường kèm các dấu hiệu rối loạn thần kinh tự  động  ở ngoại biên: bàn 
chân lạnh hay nóng, đôi lúc tĩnh mạch mu chân dãn, da khô, nốt chai ở vùng tì đè. 
- Bệnh lý một dây thần kinh: ít gặp, khởi phát đột ngột. Tổn thương TK giữa (5,8%), 
TK trụ (2,1%), TK quay (0,6%), TK mác chung. Tổn thương TK sọ (III, V, VI, VII) rất 
hiếm gặp (0,05%). Khoảng 1/3 bệnh nhân có biều hiện chèn ép TK (TK trụ, TK giữa, 
TK mác và TK giữa  ở bàn tay). Bệnh lý teo cơ do  ĐTĐ thường gặp  ở bệnh nhân 
ĐTĐ type 2 lớn tuổi với triệu chứng đau nhiều, yếu và teo cơ gần gốc ở một hay hai 
bên.  
- Bệnh lý thần kinh tự động (BLTKTĐ): 
2.2. Biến chứng mạch máu lớn 
Biểu hiện xơ vữa nhiều mạch máu lớn: thiếu máu cơ tim im lặng, NMCT (50% tử 
vong), viêm tắc  động mạch chi dưới gây hoại tử khô, viêm xương; tắc mạch bàn 
chân; cẳng chân, phải cắt cụt chi. Tai biến mạch máu não. Tắc mạch thận: có thể 
phát hiện được tiếng thổi ở động mạch thận; hậu quả THA, suy thận. 
3. Biến chứng nhiễm trùng 
Dễ bị nhiễm trùng: lao, nhiễm siêu vi và vi trùng, nhất là nhiễm trùng đường tiểu dai 
dẳng và tái phát nhiều lần nhất là  đường tiểu thấp, làm dễ cho viêm thận bể thận ngược dòng và suy thận. Nhiễm trùng da và niêm mạc: nhọt tụ cầu vàng, viêm âm 
hộ, viêm bao qui đầu.., đôi khi chính bối cảnh nhiễm trùng này làm khởi phát ĐTĐ có 
sẵn. 
4. Các biến chứng khác 
4.1. Tăng HA 
Thường phối hợp với ĐTĐ, đôi khi có trước khi ĐTĐ xuất hiện, hoặc thông thường 
do bệnh lý cầu thận, xơ vữa; tần suất gặp nhiều ở ĐTĐ type 2 nhất là béo phì vì có 
sự tương quan giữa béo phì và THA. 
4.2. Biến chứng da 
Ngoài tổn thương nhọt nhiễm trùng, ở da còn có những biểu hiệu sau: viêm teo dạng 
mỡ biểu hiệu bằng những nốt mà phần trung tâm teo lại, vùng viền xung quanh tím 
dần, định vị ở ngón tay hay chi dưới, dị ứng da do insuline, phì đại mô mỡ hoặc teo 
mô mỡ. 
4.3. Bàn chân ĐTĐ 
- Sinh bệnh học nhiễm trùng bàn chân ĐTĐ: 3 yếu tố phối hợp 
+ Bệnh lý mạch máu ngoại biên (vi mạch và mạch máu lớn). 
 + Bệnh lý thần kinh ngoại biên. 
  + Suy giảm miễn dịch: do giảm chức năng TB lympho, do tăng glucose máu, 
do dày màng đáy. 
- Phân loại nhiễm trùng 
 + Mức độ nhẹ:  
• Loét bề mặt. 
• Chảy mủ hay huyết thanh. 
• Hoại tử không có hay rất ít. 
•  Không có biểu hiện nhiễm độc toàn thân. 
 + Mức độ vừa: 
• Loét bề mặt sâu hơn. 
• Thường có chảy mủ. 
• Hoại tử mô mức độ trung bình. 
• Viêm xương tuỷ xương có thể có. 
• Biểu hiện toàn thân nhẹ: sốt, BC tăng. 
 + Mức độ nặng: 
• Loét bề mặt hay sâu hơn (vào mô dưới da, xương, khớp). 
• Chảy mủ. 
• Hoại tử mô nặng và lan rộng. 
• Biểu hiện nhiễm  độc toàn thân nặng nề: nhiễm toan, nhiễm khuẩn 
huyết. 
VII. ĐIỀU TRỊ 
1. Điều trị đái tháo đường týp 1 
1.1. Mục tiêu điều trị: 
- Làm biến mất triệu chứng, tránh biến chứng lâu dài, bằng cách kiểm soát glucose 
máu tốt, với tỉ HbA1c < 7%, kết hợp điều chỉnh rối loạn lipide, protide tốt, trọng lượng ổn định bình thường, và tránh nhiễm cetone. Tránh phát triển biến chứng thoái hóa 
(hạn chế biến chứng cấp và mạn tính). 
- Tránh tai biến do điều trị (teo mô mỡ, hạ glucose máu) và giáo dục bệnh nhân biết 
bệnh của họ. 
1.2. Điều trị tổng quát và chiến lược điều trị 
1.2.1. Giáo dục bệnh nhân về bệnh  ĐTĐ: giáo dục cho bệnh nhân biết cách dùng 
thuốc, tiết thực và các tai biến của thuốc nhất là dấu hạ glucose máu để kịp thời sử 
trí như dùng  đường nhanh hoặc báo cho BS. Chuyên khoa biết hoặc nhập viện 
ngay. 
1.2.2. Tiết thực và vận động  
 * Tiết thực: bệnh nhân ĐTĐ týp 1 thường là gầy, nên phải tăng nhu cầu calo 
hàng ngày.  
 * Vận động và tập thểø dục vừa phải, đương nhiên phối hợp insulin. Theo dõi 
kỹ glucose máu và cẩn thận liều insulin vì dễ nguy cơ hạ glucose máu. 
1.2.3. Điều trị bằng insulin 
* Các loại insulin được sử dụng 
- Insulin thường: tác dụng nhanh; nếu TDD có tác dụng sau 15-30 phút, tác dụng tối 
đa sau 1 giờ, kéo dài 4-6 giờ., nên được tiêm trước ăn 20- 30 phút..  
 Tiêm bằng nhiều  đường (TM, TB, TDD, trong phúc mạc), mỗi cách tiêm có 
thời gian tác dụng khác nhau, dùng ống tiêm, bút tiêm 
- Insulin trung gian (NPH) (tác dụng kéo dài >8 giờ và <24 giờ). Tác dụng sau 1- 2 
giờ, tối đa 4-5 giờ.  
- Insulin NPH hổn hợp: được trộn giữa insulin nhanh và insulin trung gian loại NPH. 
Tên thị trường là Mixtard 30 HM, Scillin 30 (Insulin người sinh tổng hợp).... Thuốc bắt 
đầu tác dụng sau 30 phút chích, tác dụng tối đa 2-8 giờ, kéo dài 24 giờ.  
Mixtard 30 HM Penfill cũng tương tự như vậy 
- Insulin tác dụng trung gian có kẽm: thời gian tác dụng trong vòng 6-36 giờ. Điểm 
bất lợi là gây đau chổ tiêm, nên phải tiêm ở đùi và mông       
- Insulin tác dụng chậm: không dùng trong bút tiêm, bắt  đầu tác dụng 2giờ 30 sau 
chích, tối đa 7-15 giờ, kéo dài 24 giờ, ví dụ như Monotard HM   
- Insulin tác dụng rất chậm (ultra lente): tác dụng kéo dài 36 giờ. 
- Tế bào bêta tiết insuline: mỗi tế bào có10.000 hạt hay nhiều hơn, mỗi hạt chưá 
200.000 phân tử insulin, và insuline chỉ được phóng thích vào máu khi glucose máu 
cao sau ăn 
* Cách tiêm và đường tiêm: thông thường bằng đường TDD, trường hợp biến chứng 
cấp như hôn mê toan ceton hoặc tăng thẩm thấu thì truyền TM, tiêm TM.  
Chú ý: Chỉ có insuline nhanh là có thể tiêm bằng đường TM, còn các loai trung gian, 
châm, kẽm thì không dùng đường TM 
 * Cách bảo quản insulin: insulin ổn định ở nhiệt độ từ 7 oC-27oC, tuy nhiên tốt nhất 
nên bảo quản 4 -8 oC, không nên tiêm ngay sau khi lấy từ tủ lạnh ra. 
 * Tác dụng phụ insulin 
.- Hạ glucose máu 
- Phản ứng miễn dịch do điều trị insulin: Dị ứng insulin: dưới dạng mề đay. Hiện nay 
hiếm gặp vì đã có loại insulin bán sinh học hay insulin người.  
- Đề kháng insulin. 
- Loạn dưỡng mô mỡ tại chỗ tiêm: có 2 biểu hiện: teo mô mỡ dưới da; phì đại mô 
mỡ dưới da vẫn còn là vấn đề khó tránh. 
- Tăng glucose máu mâu thuẩn: hiệu ứng Somogyi: quá liều insulin làm hạ glucose, 
gây kích thích các hormon làm tăng glucose máu (catecholamin, cortisol, glucagon), 
càng làm nặng thêm các biến chứng. 
- Phù: do giữ muối giữ nước.  
* Chỉ định điều trị insulin 
- ĐTĐ týp 1: điều trị thay thế suốt đời  
- ĐTĐ týp 2:  điều trị tăng cường hay vĩnh viễn tuỳ thuộc vào biến chứng hay bệnh 
phối hợp  
- ĐTĐ thai nghén 
* Phác đồ điều trị insulin 
- Đối với insulin nhanh: chỉ định trong trường hợp cấp cứu như hôn mê toan ceton, 
hôn mê tăng thẩm thấu (truyền TM, bằng seringue chuyền hoặc bơm). Ngoài ra 
insulin nhanh thường được chỉ định khi glucose máu dao động, khó kiểm soát. Tiêm 
dưới da trước ăn 30 phút. Tiêm nhiều lần, hoặc tiêm 2 mũi hoặc 3 mũi nhanh trước 
bữa ăn, hoặc phối hợp thêm với insulin chậm hoặc hỗn hợp vào buổi tối 
-  Đối với insulin NPH: hoặc chỉ  định trong  ĐTĐ mà glucose máu  ổn  định, cần tiêm 
2mũi/ngày: 1 buổi sáng và 1 vào buổi chiều. Hoặc phối hợp với insulin nhanh trong 
kỹ thuật 3 hoặc 4 mũi tiêm: trung gian tiêm vào tối, insulin nhanh thì tiêm sáng, trưa 
và tối.
 Sơ đồ 1: Sơ đồ điều trị insulin với 3 mũi tiêm/ngày (2 nhanh+1 loại hỗn hợp)  






- Đối với insulin NPH trộn lẫn: Loại này được sử dụng theo 2 cách sau: 
+ Kỹ thuật 2 mũi tiêm/ngày: tiêm 2 mũi trộn lẫn, chọn loại trộn lẫn này với mục đích 
là loại nhanh làm giảm nhanh glucose máu sau ăn, còn loại chậm tác dụng cả ngày 
(mũi ban ngày) và suốt trong đêm đến sáng (mũi ban đêm). 
+ Kỹ thuật 3 mũi: insulin nhanh tiêm buổi sáng và buổi trưa, mũi trộn lẫn tiêm vào 
trước ăn buổi tối, kỹ thuật này hiệu quả hơn 2 mũi. 
- Đối với insulin chậm. Kỹ thuật tiêm 1 mũi; chỉ định đối với bệnh nhân ĐTĐ có nhu 
cầu insulin tương đối không nhiều lắm  
1.2.4. Thuốc ức chế miễn dịch 
Điều trị ức chế miễn dịch trong ĐTĐ týp 1 ở giai đoạn mới khởi phát là một tiến bộ. 
Mặc dù có vài trường hợp lui bệnh hoặc giảm nhu cầu insulin, phần lớn bệnh nhân 
biểu hiện không dung nạp  đường. Loại  ức chế miễn dịch  đặc hiệu nhất là KT  đơn 
dòng, chống đặc hiệu trên sự sản xuất tế bào T. Một vài thuốc không nhằm ức chế 
miễn dịch như Probucol có xu hướng làm mất gốc tự do, và Nicotinamide ức chế sự tổng hợp Poly (ADP ribose) (một loại men phục hồi sự thương tổn NAD) nhằm làm 
suy yếu tế bào cung cấp NAD.  
1.2.5. Ghép tuỵ 
2. Điều trị ĐTĐ týp 2. 
2.1. Mục tiêu điều trị: 
- Kiểm soát glucose máu tốt như đã nói ở trên 
- Điều trị các yếu tố nguy cơ phối hợp (thuốc lá, HA. Rối loạn lipid máu)  
 2.2. Các phương tiện điều trị: 
- Giáo dục bệnh nhân 
- Tiết thực và vận động thểø lực, giảm cân nặng. 
- Thuốc hạ glucose máu: Gồm các nhóm thuốc uống chống đái tháo đường sau: 
+ Thuốc tăng tiết insulin 
   Sulfamides (Sulfonyl Uréase) 
      Metiglinide (Repaglinide) và D. phenylalanine (Nateglinide) 
+ Biguanide: Tăng sử dụng glucose ở mô (cơ, tế bào mỡ). 
+ Ức chế α-glucosidase 
+ Các nhóm thuốc khác: cũng tạo điều hoà glucose máu tốt qua cơ chế tại ruột, và 
giảm tăng glucose máu sau  ăn. Hoặc nhóm Thiazolidinedione giúp cải thiện  đề 
kháng insulin 
2.3. Áp dụng thực tế 
Đối với ĐTĐ týp 2, nhất là đối với người trẻ tuổi hơn, tiết thực và vận động thểø lực 
là  được chọn lựa  đầu tiên.  Ở bệnh nhân có glucose máu tăng nhẹ < 200 mg/dl và 
HbA1c < 8.5% nên áp dụng 4-6 vận  động và tiết thực, nếu không cải thiện  được 
glucose máu tốt thì mới sử dụng thuốc uống hạ glucose máu  
2.3.1. Tiết thực:  
* Khẩu phần thức ăn hàng ngày: 
- Tiết thực giảm calo ở bệnh nhân béo phì (20 kcalo/kg/ngày) 
- Duy trì calo ở bệnh nhân có trọng lượng bình thường (30 kcalo/kg/ngày). 
- Tăng calo ở bệnh nhân gầy (40 kcalo/kg/ngày) 
* Tôn trọng cân bằng tiết thực giữa 3 loại thức ăn sau 
   - Glucide: 50-55% (50%) khẩu phần calo hàng ngày (đó là khẩu phần căn 
bản). Dùng trái cây trong mỗi bữa ăn, nhưng cũng hạn chế. Đường chậm hay đường 
đa (loại có bột) và những loại có sợi (légume khô) làm chậm tăng đường sau ăn vì 
hấp thu chậm. Hạn chế dùng đường đơn (hấp thu nhanh). Có thể sử dụng các chất 
ngọt nhân tạo như đường saccharine, Aspartam 
  - Lipide: 30-35% (trung bình 35%) khẩu phần calo hàng ngày. Ưu tiên là dầu 
thực vật 
  - Protide: 15% khẩu phần calo hàng ngày. 
 - Rượu: uống bia rượu với lượng vừa  ở bệnh nhân  ĐTĐ có thể chấp nhận 
được, với điều kiện phải tính calo/ngày (1g rượu cho 7 Calo) và không nên dùng khi 
bụng đói, dễ hạ glucose máu. 
2.3.2. Vận động, tập thể dục:  
Giảm cân; cải thiện  được  đường máu trong và sau khi vận  động thể lực (giảm  đề 
kháng insulin, tăng tính nhạy cảm insulin ngoại biên). Giảm LDL-C, tăng HDL-C. Tác dụng có lợi trên tim mạch. Tăng khả năng tối đa sử dụng oxy, làm chậm lại nhịp tim 
lúc nghĩ ngơi và lúc gắng sức, giảm vừa phải HA 
2.3.3. Các thuốc uống hạ glucose máu:  
* Thuốc có tác dụng kích thích tiết insulin:  
- Nhóm Sulfonyl Uréase: Chuyển hoá ở gan, 1/2 đời khác nhau, thải theo đường mật 
hay thận, liên kết proteine máu cao, nguy cơ hạ glucose máu vì kích thích tuỵ tiết 
insulin. 
+ Tác dụng của Sulfonyl uréase (S.U). S.U. có tác dụng chủ yếu là kích thích tuỵ tiết 
insulin 
 Hoạt động ngoài tuỵ-trên tổng hợp glucose tại gan, vận chuyển glucose, giải phóng 
glucagon  
 S.U giảm đề kháng insulin và giảm glucose máu sau ăn do giảm độc tính glucose, 
và tăng tiềm lực trực tiếp trên gan, khi glucose máu giảm thì tế bào gan nhạy cảm 
hơn đối với insulin 
 S.U còn có tác dụng làm tăng tính nhạy cảm sau thụ thểø. 
+ Các nhóm thuốc S.U. 
* Thế hệ I: có 1/2 đời kéo dài: hiên nay ít dùng 
 - Chlorpropamide: Diabénèse 500mg/viên (thời gian 1/2 đời là 36 giờ) 
  - Carbutamide: Glucidoral, viên 500mg, Tác dụng 1/2 đời là 45 giờ. Tác dụng 
kéo dài 24 - 60 giờ. Liều dùng 1/2 - 1 viên/ng, dùng 1 liều duy nhất. 
* Thế hệ II: gồm:  
  - Gliclazide: Diamicron 80 mg, Prédian, Glucodex, Clazic, viên 80mg. Tác 
dụng 1/2 đời là 12 giờ. Tác dụng kéo dài 12 - 24 giờ. Liều dùng 1-3 viên/ng. Dùng 2 
lần/ng (trước hoặc trong bữa  ăn sáng và trong bữa  ăn tối).  Đối với người lớn tuổi, 
giảm 1/2 liều. 
  Diamicron MR 30 mg, Clazic SR 30mg, tác dụng chậm, uống 1 lần buổi sáng, 
liều 1-2 viên/lần 
  - Glibenclamide: Daonil 5mg, Hémi-Daonil 2,5mg, Daonil  faible 1,25mg (5 
giờ). Tác dụng 1/2  đời 6 - 16 giờ. Tác dụng kéo dài 12 - 24 giờ. Liều dùng thông 
thường 1-2viên/ng, có thểø tăng 3v/ng. Uống ngay trước bữa ăn chính. 1 - 3 lần/ng 
  - Glipizide: Glibénèse, Minidiab: tác dụng 1/2 đời là 3-7 giờ; tác dụng kéo dài 
6-12 giờ; 5mg/viên; liều 5 - 20mg/ngày, 2 lần/ng. 
* Thế hệ III: Glimepiride (Amaryl*, Amarel*) viên 1mg, 2mg, 3mg. Tác dụng 1/2 đời là 
5 - 8 giờ. Tác dụng kéo dài 12-24 giờ, Liều dùng là 1mg/ng, có thểø tăng dần theo 
bậc cấp 1mg, 2mg, 3mg, 4mg, 6mg, thời gian tăng theo khoảng cách 1-2 tuần; thông 
thường liều 1-4 mg/ng. Uống trước bữa ăn điểm tâm hoặc bữa ăn chính, uống một 
liều duy nhất trong ngày. 
- Glinide: có tác dụng kích thích tiết insulin khi glucose máu cao, nên điều hoà được 
glucose trong bữa ăn, kiểm soát được đường máu sau ăn. Gồm: 
  + Répaglinide (Novonorm*, Prandin*): viên 0,5mg, 1mg, 2mg; liều 4mg/ngày 
chia hai, uống trước ăn 15 phút. Kéo dài 3 giờ 
 +ì D-phenylalanine (Natéglinide). Starlix*, viên 60-120mg, liều 60-120mg/lầnx 
3 lần/ngày, cho trước ăn; kéo dài 1 giờ 30 phút   
 * Biguanides: 
  a. Metformin (Dimethylbiguanide): - Metformine tác dụng nhanh: Glucophage, Siofor, Fordia, viên 500mg, 
   -Metformine tác dụng chậm: Glucophage retard  (Metformine HCL) 850mg; 
Siofor 850mg; Fordia 850mg 
  Glucophage cho liều đầu tiên 500mg, 2-3 lần/ng; uống trong lúc ăn hoặc sau 
khi ăn; sau 10-15 ngày có thểø thay Glucophage retard 850mg, 2 lần/ng. 
  - Glucinan, Stagid: liều 2-3 viên/ng, uống trong lúc ăn. 
  - Tác dụng: không kích thích tiết insulin, nên không có tác dụng phụ hạ đường 
máu. Tuy vậy do nhiều cơ chế tác dụng nó vẫn làm giảm tác dụng đường máu lúc 
đói,  đặc biệt là sau  ăn; thuốc có tác dụng  ưu thế trên gan, giảm tân sinh  đường  ở 
gan, cải thiện  đáp  ứng sau thụ thể, tăng tiêu thụ glucose  ở tế bào  đích,  điều hoà 
được rối loạn lipde máu, giảm ngưỡng ngon miệng. Chỉ định ưu tiên cho ĐTĐ týp 2 
béo 
  * Thuốc ức chế (-Glucosidase: ức chế hấp thu glucose ở ruột 
  a. Acarbose: Glucobay, Glucor*. Viên 50mg, 100mg. Liều cho tăng dần 50 mg 
(3 lần/ng, uống ngay khi bắt đầu ăn. 
  b. Voglibose (Basen*) Thểú hệ thứ 2. Viên 0.2mg, 0.3mg. Liều 0.2mg, 3 
lần/ng, ngay trước ăn 
  * Benfluorex: (Mediator): 
  - Tác dụng: tác dụng giống Metformine, viên 150 mg. Liều: 1-3 viên/ngày (tăng 
dần liều), bắt đầu 1-2, 3 viên/ngày. 
* ThiazolidineDione 
 - Chỉ định tốt trong ĐTĐ týp 2 không béo có đề kháng insulin. 
  - Tác dụng: Tăng tính nhạy cảm insulin, Giảm glucose, TG, tăng HDL. 
 * Các nhóm thuốc mới: 
  Glitazones tác dụng lên thụ thể, giảm  được tính  đề kháng insulin một cách 
trực tiếp  ở mô  đích, giảm glucose máu, nhưng dễ tăng cân. Gồm Rosiglitazone 
(Avandia) và Pyoglitazone bắt đầu dùng tại Pháp năm 2000. 
Avandia (Rosiglitazone maleate): liều 4mg/ngày, sau 12 tuần nếu cần kiểm soát 
đường huyết tốt hơn, có thể tăng 8 mg/ngày. Dùng lúc đói hoặc no. Chỉ định: 
-  ĐTĐ týp 2 không kiểm soát đường huyết tốt sau tiết thực và tập thể dục. 
- Phối hợp với SU hoặc metformine khi  ĐTĐ2  được  điều trị bằng tiết chế và 
thuốc SU hoặc metformine mà chưa ổn định glucose máu tốt 
CCĐ trong suy tim độ 3-4 (NYHA), suy gan hoặc bệnh gan có ALT >2,5 lần BT. Tác 
dụng phụ: phù do giữ muối, nước, thiếu máu, rụng trứng trở lại trong giai đoạn tiền 
mãn kinh 
2.3.4. Điều trị insulin trong ĐTĐ týp 2. 
 * Điều trị insulin tạm thời (còn gọi là đái tháo đường týp 2 cần insulin hoặc viện đến 
insulin (insulino-nécessitant, insulinorequérant): 
Điều trị insulin ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 khi: 
- Triệu chứng nặng ra, mặc dù được điều trị tiết thực và thuốc uống hạ glucose máu. 
 + Dấu 4 nhiều: khát, tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều và gầy rõ. 
  + Có cétone niệu (+++) 
 + Tăng glucose máu nhiều và trường diễn (>3g/l), (HbA1c >7% mặc dù điều 
trị thuốc uống tối đa (gây tăng độc tính đường). 
- Đau nhiều chi dưới. 
- Các tình huống cần insulin: 
  - Các bệnh nhiễm trùng 
  - Can thiệp phẫu thuật. 
(Mục đích nhằm tránh sự mất quân bình glucose máu do phối hợp với một số bệnh 
trầm trọng như nhiễm trùng hoặc can thiệp phẩu thuật). 
 - Hoặc ở những bệnh nhân ĐTĐ týp 2 đang điều trị bằng các loại thuốc làm 
tăng glucose (như corticoides..)  
- Hoặc đái tháo đường thai nghén. 
Trong phần lớn các trường hợp này, sự sử dụng insulin  được thực hiện tại bệnh 
viện hay tại nhà, glucose máu được theo dõi đều đặn để thích nghi liều insulin. Tùy 
đáp ứng mà bác sĩ sẽ quyết định ngưng insulin và trở lại điều trị thuốc uống chống 
ĐTĐ. 
 Chỉ  định insulin trong trường hợp này có thểø  đơn  độc hoặc cùng phối hợp 
với thuốc uống chống ĐTĐ. 
 - Nếu insulin < 40UI, Glucophage 2 viên/ngày, buổi sáng và buổi tối, rồi 3v/ng, 
insulin giảm từ 2-4 UI mỗi 2 ngày. 
* Điều trị insulin lâu dài (sau cùng): được chỉ định trong những trường hợp sau: 
 - Bệnh thận, gan, tim hoặc biến chứng mắt, không thểø tiếp tục  điều trị các 
loại thuốc uống chống ĐTĐ đươc. 
 - Hoặc vì bệnh ĐTĐ tiến triển nhiều năm, mất cân bằng glucose máu trường 
diễn. Tụy không sản xuất đủ insulin. 
+ Cách sử dụng insulin trong  ĐTĐ týp 2: insulin có thểø thay thểú thuốc viên hoặc 
phối hợp 2 loại insulin và thuốc uống gọi là điều trị hổn hợp. Liều insulin thích nghi 
theo glucose máu. Số lần tiêm giống như trong týp 1. 
3. Điều trị biến chứng đái tháo đường 
Có rất nhiều biến chứng, cả cấp và mạn, một số biến chứng về tim mạch như THA, 
bệnh mạch vành, thận thì đã trình bày ở các phần điều trị theo chuyên khoa. Ở đây 
chúng tôi chỉ nói sơ về  điều trị các biến chứng cấp thường gặp như hôn mê toan 
ceton, hôn mê tăng thẩm thấu, biến chứng mạn như biến chứng thần kinh 
3.1. Biến chứng nhiễm toan- ceton (acidocetose) 
Điều trị này thực hiện ở trung tâm đặc biệt, và chuyên khoa, theo dõi chặt chẽ 
3.1.1. Chống mất nước và cung cấp muối 
Để tái lập lại dịch trong lỉnh vực ngoại bào và tăng thể tích. Phải biết trọng lượng của 
bệnh nhân trước khi bị nhiễm toan: nếu mất 10% trọng lượng thì bù lượng dịch 
tương đương trọng lượng đã mất. Ví dụ bệnh nhân 60 kg, mất 10% trọng lượng thì 
bù 6 lít: 3 lít trong 6 giờ đầu và 3 lít trong 24 giờ sau, gồm: 
  - Dung dịch muối đẳng trương: 1 - 2 lít trong 2 giờ đầu (Nếu HA tối đa < 80 mmHg, 
và không có hoại tử cơ tim, thì chuyền dịch có phân tử lớn).  
  - Rồi ngưng thay bằng dd glucose 5%, thậm chí 10% nếu glucose <2g/l, bao gồm: 
    + 2 lít trong 4 giờ tiếp theo. 
    + 3 lít trong 12 giờ sau nữa. 
3.1.2. Điều trị insulin 
  - Insulin nhanh có thể cho liều đến 300 UI, vì  
 - Liều dùng: 5-10 UI/giờ insulin nhanh bằng seringue điện. Hoặc bolus 10 UI; 
nếu chuyền không được thì TB (tránh liều cao).
3.1.3. Cân bằng điện giải: Bicarbonat: chỉ định cẩn thận vì có nguy cơ hạ kali máu: 
  + Nếu tần số thở > 26 l/phút. 
    + pH máu giảm < 7,10 mới chỉ định chuyền Bicarbonate. Nếu không sẽ 
gây phản ứng dội kiềm chuyền hoá một khi ceton bị chuyển hoá. Kiềm chuyển hoá 
sẽ làm thay đổi sự trao đổi Kali làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim 
 Liều 500-750 ml Bicarbonate  đẳng trương (chú ý không chuyền một mình 
Bicarbonate, mà phải cho cùng muối đẳng trương). 
3.1.4. Kali: Có thể cung cấp kali sau khi điều trị, tuỳ theo điện giải đồ và biến đổi điện 
tim. 
3.1.5. Các điều trị khác 
  - Kháng sinh. 
 - Điều trị bệnh nguyên. 
 - Ngăn ngừa biến chứng xuất huyết tiêu hoá do thuyên tắt mạch. 
3.2. Biến chứng hôn mê tăng thẩm thấu 
3.2.1. Bù dịch: Mất nước do tăng thẩm thấu thường đến 10 -11 lit/24, mất cả ngoại 
bào lẫn nội bào. Vì thế cần cung cấp nước khối lượng lớn, nhưng khó vì theo lý 
thuyết phải chuyền nước nhược trương, nhanh, phải có sẳn để dùng tức thì (nước 
cất và glucose  đẳng trương), nên hoàn toàn bệnh nhân phải  ở khoa  đặc biệt (có 
nguy cơ vỡ hồng cầu). Thực tế thường dùng muối đẳng trương: chlorure natri 0,9%, 
1-2 lít trong 1-2 giờ đầu. Sau đó bù nhược trương 0,45%. Lượng dịch bù có thể là 6-8 lít/12 giờ đầu, phần còn lại trong 24 hoặc 48 giờ sau. 
3.2.2. Insulin: Tiêm ngay, liều thấp hơn liều của nhiễm toan acidocetose; đầu tiên 10-15 UI, rồi 1-2 UI mỗi 1/2 giờ bằng séringue  điện. Nếu không có séringue  điện, thì 
dùng séringue thường cho liều 5-10 UI, lập lại mỗi 2 giờ/lần, nếu glucose máu < 200 
mg% thì phải chuyền glucose 5% hoặc dextrose 5%, nhưng phải duy trì glucose máu 
250-300 mg%, tránh phù não 
3.2.3. Điều chỉnh Kali máu: theo dõi kỹ điện giải đồ để xem có hạ kali không, nếu có 
cho kali 10-30mmol/L 
3.2.4. Héparine: cho sớm tránh thuyên tắc, để thay đổi tiên lượng. 
3.2.5. Kháng sinh: điều trị nhiễm trùng tiên hoặc thứ phát. 
3.2.6. Điều trị nguyên nhân. 
3.2.7. Chống sốc 
- Thuốc vận mạch dobutamine 5-15 μg/kg/phút, hoặc dopamine 3-5 μg/kg/phút.  
- Chuyền plasma. 
Tóm lại: trong 36 giờ đầu phải đạt đến mục đích sau: 
-  Glucose máu gần 250 mg% 
- Nồng độ thẩm thấu HT gần <320 mOsm/kg nước. 
- Lượng NT giảm gần 50 ml/giờ. 
3.3. Điều trị biến chứng thần kinh ĐTĐ 
3.3.1. Thuốc ức chế Aldo-réductase: 
* Sorbinil:  điều trị trong 1 năm, cải thiện lâm sàng tốt, và tỏ ra có hiệu quả  đối với 
bệnh lý thần kinh mới khởi phát, nhưng tổn thương lâu, nặng thì kết quả hạn chế. 
* Torestat: cũng cho kết quả tốt sau 6 tháng  điều trị, không có tác dụng phụ trầm 
trọng.
3.3.2. Myo-inositol: có tăng thêm sự dẫn truyền TK, nhưng không ngăn chận được 
sự ứ Sorbitol.  
3.3.3. Ức chế Sorbitol-dehydrogenase: giảm oxyde hóa sorbitol thành Fructose bằng 
chất S.0773 là một tiền dược (prodrug) được cung cấp bởi Geinsen và cọng sự, liều 
100mg/kg/ngày/3ngày. 
3.3.4. Điều trị hạ HA tư thế 
Trong thời gian  đầu, thông thường phải sữa  đổi tình trạng giảm thể tích máu, phối 
hợp với thuốc. Thuốc điều trị hiệu quả nhất là 
  - Khoáng-corticoid như Fludrocortison, liều 100 - 300(g/ngày (với thực  đơn 
nhiều muối, 2-6 g muối/ngày).  
  - Métoclopramid (primperan): thuốc  đối kháng dopaminergic, liều primperan 
10mg/viên x 3lần/ngày,. 
 - Thuốc đối kháng thụ thể alpha-adrenergic tiền synap 
  + yohimbin viên 2mg, liều 4mg x 3 lần/ngày 
 + Cẩn thận ở bệnh nhân có tiền sử TBMMN 
  - Dihydroergotamin: thuốc co động mạch, ngoài điều trị migrain còn điều trị hạ 
HA tư thế do thần kinh, do có tác dụng đối kháng thụ thể serotonin 5 HT2, nhưng liều 
cao có tác dụng đồng vận thụ thể adrenergic và tác dụng serotonic.  
    + Tamik*, viên 3mg x 2 viên/ngày, trong khi ăn;  
    + Seglor* nang 5mg, ikaran LP* viên 5mg, liều 10mg/ngày, chia 2 
    + Không nên phối hợp bêta-bloquant 
 - Ức chế bêta: ở một số rất ít bệnh nhân có tăng thụ thể bêta, thì propanolol 
được chỉ định (liều thấp). 
 - Thuốc đồng vận alpha 1: Nếu thất bại khi dùng các loại thuốc trên, thì dùng 
chất  đồng vận alpha 1 như midodrine (gutron). Liều 2.5-4 mg mỗi 6 giờ, thông 
thường phối hợp với dihydroergotamin và cafein. 
 - Thuốc đồng vận của somatostatin có tác dụng dài: đối với các thể hạ HA tư 
thế khó trị, xảy ra trong thời kỳ sau ăn, thì dùng Octreotid liều 0,1-0,5 g/kg TDD vào 
buổi sáng hoặc tối 
 - Thuốc ức chế tổng hợp prostaglandin: như indometacin, ibuprofen, cũng có 
khả năng sữa đổi hạ HA tư thế sau ăn ở bệnh nhân ĐTĐ. 
3.3.5. Điều trị liệt dạ dày: 
- Liệt dạ dày gây buồn nôn, hay nôn thì điều trị 
  + Metoclopramid (primperan), chất  đối kháng dopamin, viên 10mg, uống 4 
lần/ngày, Nhưng nếu dạ dày liệt nặng thì phải dùng đường tiêm vì hấp thu thuốc tại 
dạ dày kém. 
 Các thuốc khác như: 
  + Cisapride (prepulside*): có thể làm gia tăng phóng thích acetylcholine từ 
tùng thần kinh cơ ruột (plexux myenteric), kích thích vận  động hang vị và tá tràng, 
liều 10-40 mg trước ăn 30 phút  
  + Dopaminobloquant: domperidone (motilium), cải thiện rối loạn nhịp điện dạ 
dày, 20mg/viên, liều 10-40 mg/ngày, có thể 80mg/ngày chia bốn lần, cho 30 phút 
trước ăn. 
 + Thuốc  đồng vận cholinergic (giống phó giao cảm): bethanechol chloride 
10mg, 2 lần/ngày 
+ Chất  ức chế cholinesterasase: pyridostigmin bromid 1-2 mg/ngày, có thể 
làm giảm khô miệng 
  + Erythromycin: kích thích thụ thể motilin, kích thích co thắt hang vị sau ăn và 
đói 
Nếu tất cả đều thất bại, có thể phẩu thuật cắt jujenum, và nuôi ăn qua đường ruột 
3.3.6. Điều trị đi chảy ĐTĐ 
+ Primperan, hay loperamid (imodium, 2-4mg x 4 lần/ngày). Tác dụng của loperamid 
làm giảm số lần đi cầu và cũng làm tăng áp lực cơ vòng hậu môn lúc nghĩ ngơi 
+ Hoặc phải viện tới codein (30mg x 4 lần/ngày), opinium  
+ Clonidin: tác dụng có lợi trên cả tăng nhu động ruột và tăng tiểt ruột non, liều 0,6 
mg/viên x 3 lần/ngày, giảm nhu động thấy rõ.  
+ Octreotid: 50-75 (g TDD 2-3 lần/ngày, có thể làm giảm số lần đi cầu từ 6 xuống 1 
lần. Tuy nhiên octreotide có thể  đưa  đến biến chứng hạ glucose máu tái diễn do 
giảm tiết các hormon chống điều hoà.  
+ Diphénoxylat + atropin: lomotil 2mg-5mg, 2-4 lần/ngày, uống. Chú ý diphenoxylat 
là thuốc  được sử dụng sau cùng, và thật cẩn thận vì dễ gây phình  đại tràng 
(megacolon) 
- Đôi khi kết hợp kháng sinh chống nhiễm khuẩn. 
3.3.7. Điều trị biến chứng tại bàng quang:  
Thường giảm kích thích bàng quang, nếu có cầu bàng quang, dùng thủ thuật Crede. 
Nếu thất bại thì dùng thuốc giống phó giao cảm như bethanechol HCL 10mg, 2 
lần/ngày,   Có  thể dùng alpha-bloquant (xatral) liều cao giảm  đề kháng  đường 
thoát tiểu, nhưng có thể gây hạ HA tư thế và rối loạn phóng tinh.  
Nếu thất bại, thì phẩu thuật cắt đoạn cổ bàng quang để làm mất sự co thắt của cơ 
vòng ở đoạn dưới ở nam giới. 
3.3.8. Điều trị bất lực 
 + Thuốc  đối kháng alpha-adrenergic: yohimbin 4mg, 3 lần/ngày, có thể giảm 
33% trường hợp, và nếu cần 
  + Regitin và papaverin: có thể tiêm trực tiếp vào dương vật, một số có kết quả 
tốt, nhưng dễ bị nhiễm trùng, hoặc cường quá mức, hoặc xơ hoá.. 
  + Sidenafil (VIAGRA): thuốc làm tăng tỉ GMP vòng, gây cường dương; viên 
25mg. 50mg, 100mg. Liều 25-50mg, 1 giờ trước khi hoạt động sinh dục  
  + Caverject: là prostaglandine E1, gây dãn động mạch dương vật, và dãn cơ 
trơn thể hang, lọ 10-20(g, tiêm vào thể hang 5-20(g 
 + Hoặc đặt prothese dương vật.  
3.3.9. Điều trị triệu chứng đau trong bệnh thần kinh ngoại biên 
- Gabapentin (Neurontin): thuộc nhóm chống  động kinh, co giật, có cấu trúc gần 
giống cấu trúc của GABA/acid gamma aminobutyric, viên 100mg, 300mg và 400mg, 
liều 300mg x 2 lần/ngày, tối đa có thể tới 1200mg, tác dụng tối đa sau 2-3 giờ, nữa 
đời 5-7 giờ, Thận trọng không nên dùng: trẻ em, có thai, cho con bú, suy thận, tài xế 
lái xe 
- Thuốc kháng trầm cảm 3 vòng (amitriptylin, nortriptylin, desipramin):  đã  được sử 
dụng chống đau trong bệnh thần kinh ĐTĐ từ lâu: 
 * Liều lượng: Chia liều nhỏ để giảm tác dụng phụ. 
   Đánh giá tim mạch trước khi chỉ định. 
 Bắt  đầu 10-25mg lúc  đi ngủ có thể tăng liều mỗi tuần, liều  đạt  đến từ 25-150mg. 
  Tác dụng phụ thuốc: mờ mắt, thay  đổi thái  đô nhận thức, khô môi, bón, hạ 
HA tư thế, tiết mồ hôi, rối loạn sinh dục, mạch nhanh, bí tiểu 
3.3.10. Điều trị loét bàn chân ĐTĐ 
 - Cắt lọc vết thương rộng. 
 - Điều trị nhiễm trùng 
  - Tái lập tưới máu tốt. 
 - Loại bỏ sang chấn 
 - Giảm áp  

Post a Comment